Hoàng Sa và Trường Sa sau Chiến tranh Thế giới thứ hai (Hồ Sĩ Quý)


"Và để tận dụng không ngần ngại mọi cơ hội nhằm dập tắt những mầm mống tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi trên hai Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, từ xưa đến nay vẫn thuộc cương vực Việt Nam".

(Trần Văn Hữu, Thủ tướng Chính phủ "Quốc gia Việt Nam" tuyên bố tại Hội nghị San Francisco ngày 7/9/1951) [1].


Bài viết được trích từ cuốn Quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa thời thuộc Pháp của Giáo sư Tiến sĩ Hồ Sĩ Quý (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), do Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản tại Hà Nội, tháng 12/2025.

-------------------------------

1. Nhật Bản chiếm đóng Hoàng Sa năm 1938 và Trường Sa năm 1939

Chiến tranh thế giới lần thứ hai được xem là bắt đầu tại Châu Âu khi Phát xít Ðức xâm lược Ba Lan vào ngày 1/9/1939 và Pháp, Anh tuyên chiến với Ðức hai ngày sau đó. Ở phương Ðông, nhiều học giả coi thời điểm Nhật Bản xâm lược Trung Quốc vào ngày 7/7/1937 là ngày khởi đầu cuộc chiến. Ðối với những hòn đảo ở Biển Ðông, mặc dù có tham vọng và thỉnh thoảng vẫn tuyên bố, nhưng trước năm 1938, Nhật Bản "chưa bao giờ thực hiện bất kỳ nỗ lực nào nhằm chiếm hữu các đảo" (But Japan had never made any attempt toward taking possession of these islands) [2].

Với ý đồ thiết lập một đầu cầu quân sự xâm chiếm Ðông Nam Á, năm 1938 hải quân Nhật chiếm đóng Hoàng Sa và đổi tên quần đảo thành Hirata Gunto. Thực ra, Nhật Bản chỉ chiếm đảo Phú Lâm (Boisé, Woody Island), đảo lớn nhất trong Quần đảo Hoàng Sa, biến đảo này thành một căn cứ tàu ngầm và dựa vào cứ điểm này hòng kiểm soát vùng phía bắc Biển Ðông. Hành động này tất nhiên bị chính quyền Ðông Dương lên tiếng phản đối [3].

Ngày 31/3/1939, chính phủ quân phiệt Nhật Bản gửi thông báo tới đại sứ Pháp tại Tokyo, với giọng điệu cứng rắn tuyên bố rằng vào ngày 30/3/1939 Nhật đã chiếm đóng Trường Sa. "Ðặt Quần đảo Trường Sa hoặc Tempest ngoài khơi bờ biển Ðông Dương dưới quyền tài phán của Nhật Bản" (Place the Spratly or Tempest islands off the coast of Indochina under Japanese jurisdiction). Về chủ quyền, Nhật Bản cũng tuyên bố ở Quần đảo Trường Sa không có một quyền lục hành chính địa phương nào và Nhật Bản là người đầu tiên thám hiểm Trường Sa vào năm 1917. Về mặt danh nghĩa, Nhật Bản gọi Quần đảo Trường Sa bằng tên gọi mới "Shinnan Shoto" (Quần đảo phía Nam mới) đặt dưới sự cai quản của Toàn quyền Nhật ở Cao Hùng, Ðài Loan (thời bấy giờ Ðài Loan thuộc Nhật và thường được thế giới gọi tên là Formosa).

Quyết định của Nhật Bản quân phiệt ban đầu chỉ xuất hiện trên giấy tờ, nhưng hai năm sau đó, năm 1941 hải quân Nhật đổ bộ cưỡng chiếm đảo Itu Aba (đảo Ba Bình), là đảo lớn nhất trong Quần đảo Trường Sa (từ tháng 5/1956 đến nay do Ðài Loan chiếm giữ). Ðảo này, trong Chiến tranh thế giới thứ hai có vị thế quân sự đặc biệt quan trọng đối với Biển Ðông. Nhật Bản đã lập căn cứ quân sự cho thuỷ phi cơ, tàu chiến và tàu ngầm ở đây, nhằm từ đây kiểm soát toàn bộ Quần đảo Trường Sa. Từ các căn cứ hải quân ở Ba Bình và Phú Lâm, đầu năm 1942 hải quân Nhật đã tiến đánh các nước Ðông Nam Á và cũng đã thu được những kết quả làm rúng động khu vực [4].

Ngày 4/4/1939, Bộ Ngoại giao Pháp gửi công hàm phản đối hành động của Nhật và khẳng định bảo lưu chủ quyền của Pháp tại Quần đảo Hoàng Sa và cả Quần đảo Trường Sa. Pháp được Anh ủng hộ trong cuộc tranh luận ngày 5/4/1939 tại Hạ nghị viện. Theo đó, đại diện Bộ Ngoại giao Anh đã khẳng định "Pháp đã thực thi đầy đủ chủ quyền của mình đối với Quần đảo Trường Sa và mọi vấn đề liên quan đến quần đảo này chủ yếu là mối quan tâm của Pháp" [5].

Dưới áp lục chiến tranh của chủ nghĩa Phát xít – Ðức ở trên đất Pháp và Nhật ở Ðông Dương, ngày 5/5/1939, Toàn quyền Ðông Dương Jules Brévié ký Nghị định số 3282, để sửa đổi Nghị định số 156/SC ngày 15/6/1932, nhằm tách Hoàng Sa thành hai đơn vị hành chính độc lập giữa đông Hoàng Sa và tây Hoàng Sa. Ðơn vị hành chính ở phía tây Quần đảo Hoàng Sa là "Nhóm đảo Nguyệt Thiềm (Croissant) và các đảo phụ cận" và ở phía đông là "Nhóm đảo An Vĩnh (Amphytrite) và các đảo phụ cận". Về mặt hành chính và pháp lý, Pháp vẫn quản lý toàn bộ Hoàng Sa và đồn trú trụ sở tại đảo Pastle (Hoàng Sa) đại diện của Nhóm đảo Nguyệt Thiềm phía tây, nhưng lúc đó hầu như Pháp không dám có động thái gì. Ðiều này phản ánh thế và lực của nước Pháp trước sự hung hăng của chủ nghĩa Phát xít, trước khi quân Ðồng minh đổ bộ vào các bãi biển Normandie năm 1944.

Quần đảo Hoàng Sa – Nhóm đảo Nguyệt Thiềm (Lưỡi Liềm/Croissant) và các đảo phụ cận và ở phía đông là Nhóm đảo An Vĩnh (Amphytrite) và các đảo phụ cận - Đồ họa : Thanh Niên Online

Nhóm đảo An Vĩnh với trụ sở tại đảo Phú Lâm, lúc đó do Nhật kiểm soát. Cả quân Pháp và Nhật đều có xây dựng cơ sở phòng thủ ở các đảo Trường Sa và Hoàng Sa, nên trong Chiến tranh thế giới thứ hai, một số đảo ở đây cũng thường bị máy bay quân Ðồng minh ném bom [6].

Ngày 22/6/1940, Pháp ký thỏa thuận ngừng bắn với Ðức Quốc xã, chính phủ Vichy được thành lập, thừa kế cai trị Ðông Dương gồm cả Trường Sa và Hoàng Sa, nơi Nhật đang chiếm đóng và đang có chiến tranh. (Chính phủ Vichy 1940 – 1944, do Thống chế Philippe Pétain đứng đầu, hợp tác với phe Trục, bị Tướng lưu vong Charles de Gaulle phủ nhận). Trong đất liền, Nhật Bản ép chính phủ Vichy đóng cửa tuyến đường sắt Hải Phòng – Vân Nam để ngăn chặn viện trợ cho Trung Quốc từ khối Ðồng minh (lúc bấy giờ Trung Hoa Dân Quốc thuộc khối Ðồng minh). Tháng 9/1940 Nhật đã tràn qua biên giới vào Việt Nam và chiếm đóng Lạng Sơn, Hà Nội, Hải Phòng… trước sự bất lục của Pháp.

Ðến đầu năm 1942, hải quân Nhật Bản gồm cả tàu sân bay đã giành nhiều thắng lợi trên Biển Ðông, Biển Java và Ấn Ðộ Dương.

Cùng với đồng minh Thái Lan, Nhật Bản đã chinh phục gần như toàn bộ Miến Ðiện, Malaysia, Singapore, Papua New Guinea và Philippines gây tổn thất nặng nề cho quân Ðồng minh. Tuy nhiên, từ giữa năm 1942, sau khi giải được các mật mã của hải quân Nhật, trong trận Midway ở giữa Thái Bình Dương, quân đội Mỹ đã bắt đầu giành chiến thắng với hải quân Nhật. Ðầu năm 1943, quân Nhật bị đánh bại ở New Guinea và buộc phải rút khỏi đảo này. Trên lục địa Châu Á, sau khi tiến sâu vào các thuộc địa của Anh, Nhật gặp phải sự kháng cự mãnh liệt tại Miến Ðiện.

Ngày 9/3/1945 khi Nhật đảo chính Pháp ở Ðông Dương, quân Nhật ở Phú Lâm cũng tràn sang tước khí giới trung đội quân Pháp đồn trú ở đảo Pastle (Hoàng Sa) và bắt nhiều lính Lê dương làm tù binh. Các công chức đài khí tượng ở đảo Hoàng Sa được thả tự tìm cách về đất liền.

Cục diện chiến tranh ở Châu Âu và Châu Á đã khiến các nước Ðồng minh quyết định gặp gỡ thảo luận về vị thế của khối Ðồng minh trong mặt trận chống Nhật Bản và dự thảo những quyết định về Châu Á khi cuộc chiến kết thúc.

2. Tuyên bố Cairo ngày 1/12/1943 và Tuyên ngôn Potsdam ngày 26/7/1945

- Tuyên bố Cairo ngày 1/12/1943

Ðể chuẩn bị một lập trường chung cho Hội nghị Teheran về vấn đề lãnh thổ bị Nhật Bản chiếm tại Châu Á, năm 1943, Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt, Thủ tướng Anh Winston Churchill và Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch, đã họp hội nghị tại Cairo, Ai Cập từ ngày 22 đến ngày 27/11/1943. Tuyên bố Cairo (Cairo Communiqué), được soạn thảo và được Hoa Kỳ sửa chữa, đã được Hội nghị chấp thuận và sau đó vào ngày 1/12/1943, được công bố trên radio cho toàn thế giới. Chính sách hậu chiến của Phe Ðồng minh đối với Nhật Bản trong Tuyên bố Cairo đã được thừa nhận với tính cách là chính sách cơ bản thể hiện quyền lục của phe Ðồng minh.

Bản Tuyên bố Cairo đã được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Stalin nhất trí ngày 30/11/1943 và được khẳng định lại một lần nữa trong Tuyên ngôn Potsdam ngày 26/7/1945.

Nội dung chính của Tuyên bố Cairo ngày 1/12/1943, hiện được công bố Online tại Hồ sơ của Bộ Ngoại giao Nga, Cơ quan Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ (NARA) và tại Kho lưu trữ của Thư viện Quốc hội Nhật Bản [7].

Những nội dung đáng chú ý của Tuyên bố Cairo năm 1943 được lưu giữ tại Thư viện Quốc hội Nhật Bản (Japan National Diet Library), như sau [8] :

"Giữ bí mật, đến thời điểm quy định mới được công bố. Xin hãy bảo vệ tài liệu này tránh khỏi việc bị công bố sớm.

Bản Tuyên bố sau đây sẽ được tự động công bố vào lúc 7 giờ 30 phút tối, giờ Eastern War, thứ tư ngày 1/12/1943.

Phải áp dụng các biện pháp đề phòng đặc biệt để giữ bản Tuyên bố này hoàn toàn bí mật cho đến lúc tự động công bố. Trước thời điểm công bố, không được phép tiết lộ nội dung tài liệu ; bất cứ người nào nhận được tài liệu cũng không được suy đoán hoặc bàn luận về nội dung của nó. Các bình luận viên radio và phát thanh viên đưa tin được đặc biệt khuyến cáo không được phỏng đoán nội dung trước giờ công bố tài liệu.

Stephen Early, Thư ký Tổng thống".

(Please safeguard against premature release or publication. The following communique is for automatic release at 7:30 p.m., e.w.t., on Wednesday, December 1, 1943.

Extraordinary precautions must be taken to hold this communication absolutely confidential and secret until the hour set for automatic release.

No intimation can be given its contents nor shall its contents be the subject of speculation or discussion on the part of anybody receiving it, prior to the hour of release.

Radio commentators and news broadcasters are particularly cautioned not to make the communication the subject of speculation before the hour of release for publication

Stephen Early, Secretary to the President)

"Tổng thống Roosevelt, Thống chế Tưởng Giới Thạch và Thủ tướng Churchill, cùng các cố vấn ngoại giao và quân sự của họ, đã hoàn tất một Hội nghị ở Bắc Phi. Tuyên bố chung sau đây đã được ban hành :

Các phái đoàn quân sự đã đồng ý tiến hành các chiến dịch quân sự trong tương lai nhằm chống lại Nhật Bản. Ba Ðồng minh vĩ đại bày tỏ quyết tâm gây áp lục quân sự liên tục lên kẻ thù hung bạo ở trên biển, trên đất liền và trên không. Áp lực này đã bắt đầu gia tăng.

"Ba Ðồng minh vĩ đại đang chiến đấu để ngăn cản và trừng phạt cuộc xâm lăng của Nhật Bản. Họ không ham muốn lợi ích gì cho bản thân và không nghĩ đến việc bành trướng lãnh thổ. Mục tiêu của họ là hất cẳng Nhật Bản ra khỏi tất cả các hòn đảo thuộc Thái Bình Dương mà nước này đã cưỡng chiếm hoặc chiếm đóng từ khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bắt đầu vào năm 1914, và tất cả các lãnh thổ mà Nhật Bản đã chiếm đoạt từ người Trung Quốc như Mãn Châu, Ðài Loan và quần đảo Bành Hồ (Manchuria, Formosa and the Pescadores) phải được trao trả cho Trung Hoa Dân Quốc. Nhật Bản cũng sẽ bị trục xuất khỏi tất cả các vùng lãnh thổ mà nước này đã chiếm được bằng vũ lục và lòng tham. Nhận thức được ách nô lệ mà nhân dân Triều Tiên đang phải chịu đựng, ba cường quốc trên đây kiên định rằng Triều Tiên phải được tự do và độc lập".

Hướng tới các mục tiêu trên, phù hợp với những mục tiêu của Liên hiệp các quốc gia đang chiến đấu chống Nhật Bản, ba Ðồng minh sẽ tiếp tục kiên trì tiến hành các chiến dịch nghiêm túc và kéo dài cần thiết để giành được một sự đầu hàng vô điều kiện từ Nhật Bản".

(President Roosevelt, Generalissimo Chiang Kai-shek and Prime Minister Churchill, together with their respective military and diplomatic advisers, have completed a conference in North Africa. The following general statement was issued :

The several military missions have agreed upon future military operations against Japan. The Three Great Allies expressed their resolve to bring unrelenting pressure against their brutal enemies by sea, land, and air. This pressure is already rising.

"The Three Great Allies are fighting this war to restrain and punish the aggression of Japan. They covet no gain for themselves and have no thought of territorial expansion. It is their purpose that Japan shall be stripped of all the islands in the Pacific which she has seized or occupied since the beginning of the first World War in 1914, and that all the territories Japan has stolen from the Chinese, such as Manchuria, Formosa, and The Pescadores, shall be restored to the Republic of China. Japan will also be expelled from all other territories which she has taken by violence and greed. The aforesaid three great powers, mindful of the enslavement of the people of Korea, are determined that in due course Korea shall become free and independent".

With these objects in view the three Allies, in harmony with those of the United Nations at war with Japan, will continue to persevere in the serious and prolonged operations necessary to procure the unconditional surrender of Japan).

Hoàng Sa và Trường Sa dĩ nhiên không phải thuộc chủ quyền Trung Quốc.

Tại Hội nghị Cairo năm 1943, chính Tưởng Giới Thạch là người có mặt với cương vị Tổng thống – đại diện cao nhất của Trung Quốc – đã ký vào văn bản Tuyên bố. Chắc chắn ông hiểu rõ, Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc chủ quyền Trung Hoa.

- Tuyên ngôn Potsdam ngày 26/7/1945

Hội nghị Potsdam được tổ chức ở Potsdam, Ðức, từ ngày 17/7 đến ngày 2/8/1945 gồm đại diện ba nước : Mỹ (Tổng thống Harry Truman), Liên Xô (Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Joseph Stalin) và Anh (Thủ tướng Winston Churchil, sau đó được thay bởi tân Thủ tướng Clement Attlee). Ngày 26/7/1945, Churchil, Truman cùng với Thống chế Tưởng Giới Thạch của Trung Hoa Dân Quốc cùng đưa ra Tuyên ngôn Potsdam, vạch rõ ra những điều kiện bắt buộc Nhật Bản phải đầu hàng [9].

Tưởng Giới Thạch sau đó khẳng định các điều khoản của Tuyên ngôn Cairo sẽ được thực hiện. Tuyên bố Potsdam về "các điều kiện cho sự đầu hàng của Nhật" tương tự như một tối hậu thư đối với Nhật Bản.

Thực ra liên quan đến việc Nhật phải từ bỏ chủ quyền và trả lại lãnh thổ đã chiếm đóng trong chiến tranh liên quan trực tiếp đến Biển Ðông chỉ được nói tại Ðiều 8 của Tuyên ngôn Mỹ – Anh – Trung ngày 26/7/1945 tại Potsdam. Như nhiều nhà nghiên cứu lịch sử sau này phân tích thì, lúc đó Trung Quốc đã thỏa mãn với một khẳng định không có Hoàng Sa và Trường Sa trong phần thưởng hậu chiến. Dưới đây là các Ðiều 1, 7, 8 và 13 của Tuyên ngôn [10] :

Tuyên ngôn xác định các điều khoản cho đầu hàng của Nhật Bản. Potsdam, ngày 26 tháng 7 năm 1945 :

"1. Chúng tôi, Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Chủ tịch Chính phủ Quốc dân Trung Hoa Dân Quốc và Thủ tướng Ðại Anh, đại diện cho hàng trăm triệu công dân của chúng tôi, đã thảo luận và đồng ý rằng Nhật Bản sẽ được trao một cơ hội cuối cùng để kết thúc cuộc chiến tranh này.

7. Ðến khi một trật tự mới được thiết lập và đến khi có bằng chứng thuyết phục rằng sức mạnh chiến tranh của Nhật Bản đã bị tiêu hủy, những địa điểm trong lãnh thổ Nhật Bản sẽ bị chiếm đóng theo chỉ định của các nước Ðồng minh để bảo đảm đạt được các mục tiêu cơ bản mà chúng tôi đang thiết lập ở đây.

8. Các điều khoản của Tuyên bố Cairo sẽ được thực hiện và chủ quyền của Nhật Bản được giới hạn ở các đảo Honshu, Hokkaido, Kyushu, Shikoku và các đảo nhỏ do chúng tôi xác định.

13. Chúng tôi kêu gọi Chính phủ Nhật Bản ra tuyên bố đầu hàng vô điều kiện ngay lập tức đối với toàn bộ lực lượng võ trang Nhật Bản, và đưa ra sự đảm bảo thích đáng và đầy đủ đối với thiện chí của họ trong hành động như vậy. Sự lựa chọn khác cho Nhật Bản là bị hủy diệt ngay lập tức và toàn bộ".

(1. We-the President of the United States, the President of the National Government of the Republic of China, and the Prime Minister of Great Britain, representing the hundreds of millions of our countrymen, have conferred and agree that Japan shall be given an opportunity to end this war.

7. Until such a new order is established and until there is convincing proof that Japan’s war-making power is destroyed, points in Japanese territory to be designated by the Allies shall be occupied to secure the achievement of the basic objectives we are here setting forth.

8. The terms of the Cairo Declaration shall be carried out and Japanese sovereignty shall be limited to the islands of Honshu, Hokkaido, Kyushu, Shikoku and such minor islands as we determine.

13. We call upon the government of Japan to proclaim now the unconditional surrender of all Japanese armed forces, and to provide proper and adequate assurances of their good faith in such action. The alternative for Japan is prompt and utter destruction).

Như thỏa thuận đã ghi trong Tuyên bố Cairo năm 1943, sau chiến tranh các lãnh thổ từng bị Nhật chiếm là Mãn Châu, Ðài Loan và Bành Hồ sẽ được trả lại cho Trung Hoa. Khoản 8 của Tuyên bố Cairo năm 1943 được trích lại rõ ở Tuyên ngôn Potsdam. Ðiều đó cho thấy tính pháp lý quốc tế của Tuyên bố Cairo : Không có dòng chữ nào nói thêm rằng các Quần đáo Paracel, Spratly sẽ đưọc giao cho Trung Quốc như gần đây Trung Quốc giải thích. Trung Hoa Dân Quốc là một thành viên nòng cốt tham gia Hội nghị Cairo nhưng cũng không hề có bất cứ một bảo lưu hoặc một tuyên bố hay yêu sách riêng rẽ nào về phần lãnh thổ được trả lại. Có thể coi Tuyên bố cairo năm 1943 và Tuyên ngôn Potsdam năm 1945 là sự khẳng định gián tiếp rằng, các Quần đảo Paracels (Hoàng Sa) và Spratlys (Trường Sa), từ xưa đến nay đều không phải là lãnh thổ của Trung Hoa.

Tại Hội nghị Potsdam, Mỹ, Liên Xô và Anh còn thỏa thuận chia Ðông Dương làm hai khu vực giải giáp quân đội Nhật Bản với vĩ tuyến 160 làm giới tuyến : khu vực phía Bắc giao cho quân đội Trung Hoa Dân Quốc, khu vực phía Nam giao cho Liên quân Anh – Ấn [11].

- Quyết định về việc giải giới quân Nhật ngày 15/8/1945 và lãnh thổ thu hồi từ quân phiệt Nhật sẽ được trả lại cho chủ cũ

Tại Hội nghị Potsdam từ ngày 17/7 đến ngày 2/8/1945, Tham mưu trưởng Liên quân Ðồng minh đã quyết định phân vùng tạm thời tại Việt Nam, với mục đích tạo thuận tiện cho hoạt động. Các bên đã đồng ý rằng các lực lượng Anh sẽ giải giới quân đội Nhật Bản ở Sài Gòn và nửa phía nam Ðông Dương. Còn nửa phía bắc, các lực lượng Nhật Bản sẽ do Trung Quốc giải giới [12].

Trong ngày 15/8/1945, Bộ Tư lệnh tối cao Mỹ/Anh dựa theo nghị quyết quân sự Hội nghị Potsdam, hạ mệnh lệnh số 1 cho Ðại tướng Mc Arthur, Tư lệnh chiến trường Thái Bình Dương :

"Ðiều 1A : Các tư lệnh cấp cao Nhật Bản và tất cả các lực lượng hải quân, lục quân, không quân và các lực lượng phụ thuộc trong phạm vi Trung Hoa (trừ Mãn Châu), Ðài Loan và Ðông Dương thuộc Pháp ở Bắc vĩ tuyến 16 sẽ đầu hàng Tổng tư lệnh Tưởng Giới Thạch.

Ðiều 1C : Các tư lệnh cấp cao Nhật Bản và tất cả các lực lượng hải quân, lục quân, không quân và các lực lượng phụ thuộc trong phạm vi Andamnus, Nicobars, Miến Ðiện, Thái Lan, Ðông Dương thuộc Pháp ở Nam vĩ tuyến 16, Malaysia, Bornéo và các đảo nhỏ trên Thái Bình Dương sẽ đầu hàng Ðô đốc Maubetton/Bộ chỉ huy Ðông Nam Á (SEAC), trừ Indonesia sẽ đầu hàng Tư lệnh tối cao Ðồng minh ở Thái Bình Dương, Ðại tướng Mc Arthur".

Hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm hoàn toàn ở phía Nam vĩ tuyến 16 nên ngoài phạm vi trách nhiệm của Trung Hoa Dân Quốc. Theo tinh thần thỏa thuận của Lực lượng Ðồng minh và Hiến chương Liên Hiệp Quốc, những lãnh thổ thu hồi từ quân phiệt Nhật sẽ được trả lại cho chủ cũ từng bị Nhật xâm chiếm. Nghĩa là, Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa sẽ phải được trả lại cho Pháp và Việt Nam.

Ngày 9/10/1945, Cao ủy Pháp tại Ðông Dương D’Argenlieu và Ðại tướng Douglas David Gracey ký biên bản thỏa thuận việc Anh bàn giao cho Pháp nhiệm vụ thay mặt Ðồng minh chiếm đóng toàn bộ miền Nam Ðông Dương phía Nam vĩ tuyến 16.

Trong tối hậu thư Potsdam mà Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa gửi cho Nhật Bản ngày 26/7/1945, không đề cập ai sẽ cai trị Ðông Dương sau khi quân đội Nhật bị giải giới. Ðây là tình huống đã tạo ra khoảng trống chính trị. Pháp không bỏ lỡ cơ hội này để thương thảo với Anh và Trung Quốc tái chiếm Việt Nam. Việc trao trả lãnh thổ vùng Tô giới Quảng Châu Loan thuộc Bắc Bộ mà chúng tôi có nói tới trong Chương 2, đã phản ánh một phần tình hình. Tuy vậy, đơn vị đầu tiên trong phái bộ quân sự Anh đến Sài Gòn ngày 6/9/1945, nghĩa là sau ngày Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố độc lập bằng Bản Tuyên ngôn lịch sử ngày 2/9/1945 ở Hà Nội.

(Hồ Sĩ Quý, Nghiên cứu quốc tế, 25/01/2026)

Chú giải :

[1] "Et comme il faut franchement profiter de toutes occasions pour étouffer les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur les îles Spratley et Paracels qui, de tout temps, ont fait partie du Viêt Nam", Les États associés a la Conférence de San Francisco les đ et 7 Septembre 1951. Viet-Nam Déclaration du Président Tran-van-Huu. "France-Asie. Revue de Culture et de Synthèse Franco-Asiatique", Saigon, Décembre 1951, Tome VII. 6e Année, 66-67, pp.503-505. Thư viện Viện Thông tin Khoa học xã hội, Ký hiệu kho : 80 7738 (1951), OCTO 18305.

[2] Republic of Vietnam, Ministry ot Foreign Affairs (1975), White paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands, Vietnam-Bo Ngoai giao, Saigon, pp. 73-74.

[3] Xem : Le Japon et l’occupation des îles Paracel, "Le Petit Parisien" (22407), Paris, 6 July 1938, tr. 3.

[4] Xem : Bob Hackett, Sander Kingsepp and Anthony Tully (2012), Japanese Occupation South China Sea Islands – 1937-1941.

[5] Xem : Republic of Vietnam (1975), White paper, Sđd, tr. 73.

[6] Xem : Hsu Long-Hsuen and Chang Ming-Kai (1971), History of The Sino-Japanese War (1937 – 1945), 2nd Ed.,1971, Translated by Wen Ha-hsiung, Chung Wu Publishing ; 33, 140th Lane, Tung-Hwa Street, Taipei, Taiwan Republic of China.

[7] Cairo Communiqué, December 1, 1943.

Có thể tham khảo và đối chiếu với Hồ sơ Cairo của Nga : 1). Материалы международных конференций 1943–1945 гг. 2). Каирская декларация, подписанная США, Великобританией и Китаем 27 ноября 1943 г. Hoa Kỳ : National Archives and Records Administration (NARA).

[8] Xem : Cairo Communiqué, December 1, 1943.

[9] Xem : Матералы Берлинской (Потсдамской) конференции руководителей трех союзных держав – СССР, США и Великобритании. 17 июля – 2 августа 1945 г.

[10] Xem : Potsdam Declaration (1945) (Hồ sơ chi tiết PDF).

[11] Xem : The Terminal Conference : July-August 1945, Combined Chiefs of Staff, Command in Indo-China, Memorandum by the British Chiefs of Staff, 22 July 1945. c. 160.

[12] Xem : Operation Terminal (II) (Vĩ tuyến 17 nói đến trong tài liệu này là quy định cho lãnh thổ Việt Nam, có lẽ không mâu thuẫn gì với Vĩ tuyến 16 được nói tới trong Bản ghi nhớ CCS 890/3 ngày 22/7/1945 của Tham mưu trưởng quân Anh.

*************************

3. Pháp trở lại kiểm soát Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tháng 5/1945. Trung Quốc chiếm đảo Ba Bình tháng 1/1946 và Phú Lâm tháng 12/1946

Trong thời gian từ ngày 20/5 đến ngày 27/5/1945, Ðô đốc D’Argenlieu (người sau đó làm Cao ủy Ðông Dương từ tháng 8/1945), đã phái tốc hạm L’Escamouche và chiến hạm Savorgnan de Brazza ra nắm tình hình và tuần tra Quần đảo Hoàng Sa. Một phân đội lính Pháp đã đổ bộ từ tàu Savorgnan de Brazza lên đảo Hoàng Sa và trấn giữ Nhóm đảo Nguyệt Thiềm phía tây Quần đảo Hoàng Sa. Riêng Nhóm đảo An Vĩnh ở phía đông vẫn do Nhật đóng quân chờ giải giáp.

Suốt thời kỳ Pháp thuộc, người Pháp chưa bao giờ tuyên bố phủ nhận chủ quyền của Vương quốc An Nam ở hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà nước Pháp có trách nhiệm bảo hộ. Mặc dù trong giai đoạn này bắt đầu có một số nước lên tiếng đòi hỏi chủ quyền vô lý ở một số đảo, nhưng tất cả đều bị chính quyền Pháp kiên quyết phản đối. Những tư liệu lịch sử nói trên cho thấy, người Pháp cũng như người Việt trong suốt lịch sử và tại thời điểm này chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa. Cho đến khi thua trận rút khỏi Ðông Dương, Chính phủ Pháp cũng đã bàn giao quyền quản lý vùng biển này lại cho Chính phủ Quốc gia Việt Nam.

- Trung Quốc chiếm đảo Ba Bình (tháng 1/1946)

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Ðế quốc Nhật Bản chiếm một số đảo thuộc Nhóm An Vĩnh của Quần đảo Hoàng Sa, và sử dụng đảo Ba Bình ở Quần đảo Trường Sa làm căn cứ tàu ngầm cho các chiến dịch ở Ðông Nam Á. Sau cuộc chiến, Pháp tái khẳng định chủ quyền đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tháng 1/1946, Trung Quốc (Trung Hoa Dân Quốc) lấy cớ giải giáp quân đội Nhật đã cho hai tàu chiến đổ bộ dựng bia trên đảo Ba Bình (Quần đảo Trường Sa), và gọi là đảo Thái Bình (Tai Ping Dao). Trước đó chính quyền Pháp đã dựng bia chủ quyền tại đây. Pháp phản đối kịch liệt, trong năm 1946 cho tàu liên tục tuần tra kiểm soát Quần đảo Trường Sa, nhưng không chạm trán với Trung Hoa trên đảo Ba Bình.

- Tình huống phức tạp ở Ðông Dương 1945 – 1946

Cần thiết phải đề cập đôi nét về tình hình không đơn giản của những năm 1945 – 1946 quy định lịch sử vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Sau cuộc đảo chính của Nhật ngày 9/3/1945, Pháp mất quyền cai trị Ðông Dương. Khi Nhật đầu hàng Ðồng minh, chớp thời cơ, Cách mạng tháng Tám đã thành công, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập ; Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Ðình ngày 2/9/1945. Nên lưu ý rằng, toàn bộ những hoạt động của chính quyền Cách mạng non trẻ Việt Nam lúc đó đều có sự hợp tác và nhận được sự ủng hộ tương đối nhiệt thành của Mỹ và lực lượng Ðồng minh [1].

Theo thỏa thuận của Ðồng minh thì quân Anh sẽ vào miền Nam và 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch sẽ giải giáp quân Nhật ở miền Bắc. Tuy Việt Nam đã giành chính quyền và tuyên ngôn độc lập, nhưng Pháp vẫn muốn tái lập quyền cai trị Ðông Dương, nên tháng 9/1945 Pháp đã dựa vào Anh ở miền Nam và Trung Quốc ở miền Bắc hòng cướp lại chính quyền từ phía Cách mạng. Cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp có nguyên nhân từ đây và bắt đầu hình thành.

Mặc dù Trung Hoa Dân Quốc vẫn công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng lại bắt tay với Pháp để đưa quân Pháp tái xâm nhập miền Bắc theo chân Ðồng minh. Do vậy, ngày 28/2/1946, Hiệp ước Trùng Khánh (Còn gọi là Hiệp ước Hoa – Pháp) giữa Pháp và Trung Quốc được ký kết.

Nhiệm vụ giải giới quân Nhật của quân Trung Hoa Dân Quốc do Ðại tướng Lư Hán chỉ huy diễn ra từ khi quân Trung Hoa Dân Quốc kéo vào Bắc Ðông Dương từ ngày 20/8/1945.

Ðến ngày 28/2/1946, Cao ủy D’Argenlieu đã ký với Ðại tướng Hà Ứng Khâm Hiệp ước Trùng Khánh, theo đó, quân Trung Hoa Dân Quốc chấp nhận rút quân về nước, bàn giao cho Pháp tiếp quản Lào và Việt Nam ở Bắc vĩ tuyến 16 trong khi chờ có nghị quyết mới của Liên Hiệp Quốc.

Với Hiệp ước này, Pháp trả lại cho Trung Quốc các tô giới của Pháp trên đất Trung Hoa là Hán Khẩu, Thiên Tân, Thượng Hải, Quảng Ðông, Quảng Châu Loan, Sa Diện và nhượng lại quyền khai thác và sở hữu tuyến đường sắt Hải Phòng – Côn Minh cũng như từ bỏ quyền lãnh sự tài phán đối với công dân Pháp sống tại Trung Quốc. Trung Quốc còn được quyền khai thác kinh tế tại đặc khu Hải Phòng. Ðổi lại, Trung Hoa Dân Quốc đồng ý cho Pháp thay thế quân Trung Hoa giải giáp quân Nhật tại miền Bắc Việt Nam từ ngày 1 đến ngày 31/3/1946. (Tuy nhiên, trên thực tế, quân Trung Hoa Dân Quốc vẫn đồn trú tại miền Bắc Việt Nam đến ngày 15/6/1946).

Hiệp ước Trùng Khánh ngày 28/2/1946 đặt Việt Nam vào tình thế phải lựa chọn, hoặc là ngay lập tức cầm vũ khí chống Pháp trở lại miền Bắc, hoặc là phải hòa hoãn với Pháp để đuổi 20 vạn quân Tưởng để giành thời gian chuẩn bị lực lượng đối phó với tình hình. Ðúng lúc này, Jean Sainteny, đại diện Pháp ở Hà Nội, do hiểu được khả năng không thể khuất phục tinh thần dân tộc Việt Nam bằng quân sự, hơn nữa với thực lực mới chỉ kiểm soát được khu vực ngoại vi các thành phố và các quốc lộ lớn ở Nam Bộ, nên Pháp đã ký một thỏa ước với Chính phủ Hồ Chí Minh – Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/1946 [2].

Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/1946 trên thực tế là một nước cờ chính trị lợi hại của Chính phủ Hồ Chí Minh, và cũng một phần của phía Pháp : Chính phủ Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do trong khối Liên hiệp Pháp. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay thế cho 200.000 quân Trung Hoa Quốc giải giáp quân Nhật. Pháp sẽ rút hết quân trong thời hạn 5 năm, đồng ý trưng cầu dân ý tại Nam Kỳ để tái thống nhất đất nước. Hai bên ngừng bắn, giữ nguyên hiện trạng quân đội để đàm phán về tương lai của Ðông Dương, quan hệ quốc tế và quyền lợi của Pháp ở Việt Nam. Về phía Pháp, quân đội Pháp được đưa ra miền Bắc, mà không bị sự cản trở từ phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và từ phía Trung Hoa Dân Quốc.

Theo Hiệp định ngày 6/3/1946 việc giải giáp quân Nhật Bản từ vĩ tuyến 16 trở ra giao cho Liên quân Việt – Pháp.

Trong thời gian quân Trung Quốc đang ở Việt Nam, ngày 18/3/1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cử một phái đoàn sang Trùng Khánh gặp gỡ Trung Quốc. Cuộc gặp gỡ ở Trùng Khánh cùng với chủ trương "Hoa – Việt thân thiện" – khôn khéo sử dựng những sách lược linh hoạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian đó, đã góp phần đẩy được 20 vạn quân Tưởng ra khỏi đất nước và mở ra những cục diện có lợi cho Việt Nam về sau.

Mặc dù đã ký Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/1946 với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng ba năm sau đó Tổng thống Pháp vẫn tiếp tục ký Hiệp ước Elysée ngày 8/3/1949 với Bảo Ðại, một Cựu vương đã thoái vị tháng 8/1945, lập ra một thực thể chính trị mới là "Quốc gia Việt Nam", đôi khi còn được gọi là "Ðế quốc Việt Nam" tồn tại trong giai đoạn 1949 – 1956.

Hiệp ước Elysée (Accords de l’Elysée) được ký kết ngày 8/3/1949 giữa Cựu vương Bảo Ðại và Vincent Auriol, Tổng thống Cộng hòa Pháp kiêm Chủ tịch Khối Liên hiệp Pháp dưới hình thức trao đổi thư. Hiệp ước Elysée ngày 8/3/1949 công nhận "Quốc gia Việt Nam" là một quốc gia độc lập nằm trong khối Liên hiệp Pháp ; Bảo Ðại là quốc trưởng. Pháp chuyển giao cho Việt Nam những quyền và nghĩa vụ quốc tế với tư cách là quốc gia thừa kế của Pháp. Ngày 16/6/1949 Bảo Ðại về nước và ngày 1/7/1949 trở thành Quốc trưởng kiêm Thủ tướng "Quốc gia Việt Nam". Ngày 29/6/1950, Pháp chính thức công nhận "Quốc gia Việt Nam" là chính phủ của Việt Nam thành viên thuộc Khối Liên hiệp Pháp. Những năm sau đó, "Quốc gia Việt Nam" đã gia nhập một số tổ chức quốc tế như ILO – 6/1950, FAO – 11/1950, UNESCO- 6/1951…

Ðiều đáng chú ý là, đại diện Việt Nam tham dự Hội nghị San Francisco năm 1951 là "Quốc gia Việt Nam", trong khi cả Trung Quốc đại lục và Ðài Loan không được tham dự Hội nghị hậu chiến lịch sử quan trọng này. Những năm 50 (thế kỷ XX), phần lớn các nước phương Tây, khi không công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã thừa nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Quốc gia Việt Nam. Cuối năm 1955, Ngô Ðình Diệm – với tư cách là Thủ tướng "Quốc gia Việt Nam" đã lên làm Tổng thống sau cuộc "Trưng cầu dân ý" ngày 23/10/1955. Từ năm 1956, Quốc gia Việt Nam theo Hiến Pháp ngày 26/10/1956 trở thành chính thể Việt Nam Cộng hòa.

Về Bảo Ðại và Chính phủ "Quốc gia Việt Nam", Bách khoa thư về các nguyên thủ và các chính phủ 1900 – 1945, một cuốn bách khoa được giới học thuật đánh giá là có uy tín và có thái độ khách quan, viết :

"Ngày 25/8/1945, ông đã hợp tác một thời gian ngắn với Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới được thành lập (Bắc Việt Nam). Ông sống lưu vong ở Hồng Kông vào tháng 7/1946. Người Pháp đã cố gắng thiết lập lại chính quyền thuộc địa Ðông Dương và tham dự vào cuộc chiến tranh với Việt Minh. Pháp đã tham gia đàm phán với Bảo Ðại, và Nhà nước Liên hiệp tự trị Việt Nam (The Autonomous Associated State of Vietnam – "Quốc gia Việt Nam") được thành lập vào tháng 3/1949. Bảo Ðại trở thành người đứng đầu Chính phủ và nhậm chức tại Sài Gòn vào ngày 14/6/1949. Người Pháp tiếp tục chiến đấu với quân đội Hồ Chí Minh cho đến khi chịu những thất bại lớn tại Ðiện Biên Phủ vào tháng 7/1954. Một Hiệp ước đã được ký kết tại Geneva thành lập hai quốc gia riêng biệt được phân chia bởi vĩ tuyến 17. Bảo Ðại vẫn là nguyên thủ quốc gia của miền Nam Việt Nam. Thủ tướng của ông, Ngô Ðình Diệm đã tổ chức một cuộc Trưng cầu dân ý vào năm 1955 nhằm xác định hình thức chính phủ cho Việt Nam. Cuộc Trưng cầu dân ý đã ủng hộ áp đảo một nền Cộng hòa, và Ngô Ðình Diệm được bầu chọn làm Tổng thống ngày 26/10/1955" [3].

Sau Hiệp ước Elysée ngày 8/3/1949, mặc dù quân đội Pháp vẫn đồn trú một số đảo thuộc Quần đảo Hoàng Sa cho đến năm 1956, nhưng ngày 14/10/1950, Pháp đã chính thức chuyển giao quyền bảo vệ và quản lý quần đảo này cho Việt Nam. Tướng Phan Văn Giáo, lúc đó là Toàn quyền miền Trung, đã đích thân ra đảo Hoàng Sa để chủ trì buổi lễ chuyển giao.

Ðến ngày 31/3/1946, việc rút quân Trung Hoa Dân Quốc ra khỏi Bắc Ðông Dương căn bản kết thúc. Ngày 10/4/1946, quân Pháp hoàn tất việc rải quân trấn đóng khắp các vị trí quan trọng ở Bắc Ðông Dương, bước đầu sự trở lại của Pháp ở thuộc địa cũ.

- Trung Quốc chiếm đảo Phú Lâm (tháng 12/1946)

Ðầu tháng 6/1946, Cao ủy D’Argenlieu lại cử chiến hạm Savorgnan de Brazza ra tăng cường cho Quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 26/6/1946, 4 tàu chiến của Trung Hoa Dân Quốc kéo ra Quần đảo Hoàng Sa nhưng bị tàu Pháp ngăn chặn và xua đuổi nên phải rút lui.

Vì cuộc kháng chiến chống Pháp (Chiến tranh Ðông Dương) bùng nổ dữ đội ở Nam Bộ và Trung Bộ, trong khi tình hình Bắc Bộ cũng rất căng thẳng, nên tháng 9/1946, chiến hạm Savorgnan de Brazza phải rút vào Ðà Nẵng. Nhưng Pháp vẫn để quân trấn giữ nhóm đảo Nguyệt Thiềm phía tây Quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 11/10/1946, Ủy ban liên bộ thuộc Chính phủ lâm thời Pháp quyết định cần khẳng định chủ quyền của Pháp đối với Quần đảo Hoàng Sa và thể hiện điều đó bằng việc khôi phục lại hoạt động trạm khí tượng tại Hoàng Sa. Hành động này cho thấy người Pháp lúc đó đã ý thức rất rõ Hoàng Sa – Trường Sa có giá trị như thế nào.

Cho đến tháng 12/1946, tại đảo Phú Lâm (nhóm An Vĩnh phía đông Quần đảo Hoàng Sa) vẫn còn một trung đội lính Nhật chiếm đóng với hai tàu chiến cũ hoàn toàn hư hỏng và hết nhiên liệu. Quân Nhật tại đây liên lạc với một tàu buôn Hồng Kông đi ngang qua yêu cầu đất liền hỗ trợ. Tháng 12/1946, Ðại tướng Hà Ứng Khâm cho ba tàu chiến đổ bộ lên chiếm đảo Phú Lâm và cho quân Nhật về nước, trong khi nhiệm vụ giải giới quân Nhật đã kết thúc từ tháng 3/1946.

Ngày 7/1/1947, Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố họ đã chiếm giữ Quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) nhưng thực ra chỉ chiếm được một đảo Phú Lâm, mà phía Trung Quốc gọi là đảo Vĩnh Hưng, ở phía đông Quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 17/1/1947, Cao ủy D’Argenlieu cử pháo hạm Le Tonkinois ra nhóm đảo An Vĩnh để đòi quân Trung Hoa rút khỏi đây. Khi yêu cầu này bị từ chối, quân Pháp cho 10 quân nhân Pháp và 17 quân nhân Việt Nam tăng cường trấn giữ đảo Hoàng Sa (Pattle Island, một hòn đảo lớn thuộc Quần đảo Hoàng Sa), cùng với một số ca nô tuần tra nhóm đảo Nguyệt Thiềm ở phía tây Quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 4/7/1947, Bộ Ngoại giao Pháp đề nghị với Trung Hoa Dân Quốc đàm phán hữu nghị hoặc đưa vấn đề ra Tòa án trọng tài quốc tế. Phía Trung Quốc khước từ. Nhưng do bị thua trận trong lục địa, tháng 10/1947, quân Trung Hoa Dân Quốc phải rút khỏi đảo Phú Lâm. Pháp lại kiểm soát toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa.

Khi hệ thống thuộc địa của Pháp bắt đầu tan rã, nước Pháp cũng ngừng tuần tra Quần đảo Trường Sa vào năm 1948 và chuyển giao nhiệm vụ này cho một hải đội hải quân của Việt Nam.



4. Việt Nam thu hồi toàn vẹn Hoàng Sa – Trường Sa ngày 14/10/1950 và tuyên bố chủ quyền không tranh chấp tại Hội nghị San Francisco ngày 8/9/1951

Tháng 4/1949 tại Sài Gòn, Hoàng thân Nguyễn Phước Bửu Lộc, Chánh văn phòng Quốc trưởng Bảo Ðại của "Quốc gia Việt Nam", tuyên bố tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 14/10/1950, Chính phủ Pháp chính thức chuyển trả cho Chính phủ "Quốc gia Việt Nam" toàn vẹn chủ quyền Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa. Thủ hiến Trung phần Phan Văn Giáo (thuộc Chính phủ Bảo Ðại) thay mặt Việt Nam đã chủ tọa buổi lễ thu hồi chủ quyền này.

Mặc dù "Quốc gia Việt Nam" chỉ là thực thể chính trị có vị thế không tường minh và thiếu thực lực chính trị thực tế, nhưng việc tiếp nhận từ Chính phủ Pháp toàn bộ Hoàng Sa, Trường Sa lại là hành động lịch sử có ý nghĩa vô cùng giá trị đối với chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo này. Chính phủ Cộng hòa Pháp sau gần100 năm thiết lập chế độ thực dân ở Việt Nam, đã chính thức trả cho Việt Nam chủ quyền toàn vẹn hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng một nghi thức long trọng và chuẩn mực theo công pháp quốc tế.

Về sự kiện này, Sách Trắng Việt Nam Cộng hòa năm 1975 viết : "Tướng Phan Văn Giáo, lúc đó là Thủ hiến Trung phần, đã đích thân ra đảo Hoàng Sa để chủ trì buổi lễ. Vị tướng thực hiện chuyến đi đến hòn đảo xa xôi và cách trở này vì ông đã báo cáo với Thủ tướng Trần Văn Hữu ở Sài Gòn : "Tôi tin rằng sự hiện diện của tôi trong tổ chức Việt Binh Ðoàn (Regional Guard Unit) sẽ có tác dụng an ủi về tinh thần trong ngày đơn vị nhận trọng trách nặng nề". Không còn nghi ngờ gì nữa, Thủ tướng Trần Văn Hữu hài lòng với sáng kiến của ngài Thủ hiến, vì vào năm sau (1951) chính ông sẽ tham dự Hội nghị Hòa bình San Franciso với Nhật Bản trước khi ông tái khẳng định một cách long trọng và dứt khoát các quyền của đất nước mình đối với cả Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa. Sau thất bại năm 1945, Nhật Bản đã từ bỏ mọi yêu sách đối với những hòn đảo mà lực lượng của họ đã chiếm đóng" [4].

- Philippines tuyên bố về Trường Sa ngày 17/5/1951

Ngày 17/5/1951, Tổng thống Philippines Elpidio Quirino tuyên bố với báo chí : "Về phương diện địa dư, Quần đảo Spratly ở sát liền Quần đảo Philippines nên phải thuộc về Philippines", và thừa nhận có các trạm khí tượng do Pháp xây dựng ở Quần đảo Hoàng Sa (trạm Phú Lâm 48859, trạm Hoàng Sa 48860) và ở Quần đảo Trường Sa (trạm Ba Bình 489189). Việc Tổng thống Philippines Quirino tuyên bố với giới báo chí rằng Quần đảo Spratly thuộc về Philippines, nhưng lại thừa nhận rằng trên những đảo đó người Pháp từ lâu đã thực thi sự quản lý và có các trạm khí tượng, thì chính Tổng thống Quirino lại cùng với những người phát ngôn của Chính phủ Philippines lúc đó đã tự bác bỏ mình [5].

Tại Hội nghị San Francisco ngày 7/9/1951, phái đoàn Philippines do Bộ trưởng Ngoại giao Carlos Romulo đứng đầu đã không có phản ứng gì khi Thủ tướng "Quốc gia Việt Nam" Trần Văn Hữu khẳng định hai Quần đảo Hoàng Sa (Paracel) và Trường Sa (Spratly) thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Ngày 24/8/1951, Tân Hoa Xã, cơ quan thông tấn quốc gia của Trung Quốc, lên tiếng tranh cãi về chủ quyền của Pháp và những tham vọng của Philippines, đồng thời tuyên bố khẳng định chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo mà họ gọi là Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa).

- Hiệp ước San Francisco ngày 8/9/1951

Sau tối hậu thư Potsdam tháng 7/1945, Nhật chấp nhận thất bại, đồng ý thỏa mãn các yêu sách Cairo năm 1943 và Potsdam năm 1945. Ngày 2/9/1945 Nhật ký văn kiện đầu hàng vô điều kiện trên chiến hạm của Mỹ neo đậu tại vịnh Tokyo với Tướng Douglas MacArthur, đại diện của phe Ðồng minh cùng sự ký nhận chứng kiến của 9 quốc gia gồm Mỹ, Anh, Trung Hoa, Liên Xô, Úc, Canada, Hà Lan, New Zealand và Pháp. Việc mở hướng cho thể chế nước Nhật thời hậu chiến, tạo lập trật tự quan hệ quốc tế mới, cũng như việc giải quyết vấn đề phần lãnh thổ do Nhật chiếm đóng, cần được phân định bằng một hiệp ước quốc tế để tránh phát sinh những xung đột mới. Từ ngày 4/9 đến ngày 8/9/1951, Hội nghị San Francisco được tổ chức để bàn về việc ký hòa ước với Nhật Bản. Trong hội nghị này, vấn đề chính là thảo luận dự thảo "Hiệp ước Hòa bình giữa các nước trong phe Ðồng minh với Nhật Bản" do Anh và Mỹ đưa ra ngày 12/7/1951, nhằm chính thức kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai ở Châu Á – Thái Bình Dương.

Tham dự Hội nghị với Nhật Bản có đại biểu của 50 quốc gia, gồm : Ai Cập, Anh, Argentina, Ba Lan, Bỉ, Bolivia, Brasil, Cambodia, Cannada, Ceylon, Chile, Colombia, Costa Rica, Cuba, Dominica, Ecuador, Ethiopia, Hy Lạp, Guatemala, Haiti, Honduras, Hà Lan, Indonesia, Iran, Iraq, Lào, Lebanon, Liberia, Liên Xô, Luxembourg, Mexico, Mỹ, Na Uy, Nam Phi, Nicaragoa, Pakistan, Panama, Paraguay, Peru, Pháp, Philippines, Salvador, Saudi Arabia, Syria, Thổ Nhĩ Kỳ, Tiệp Khắc, Uruguay, Australia, Venezuela, Việt Nam. Ðại biểu thứ 51 là Trung Hoa không được mời tham dự, vì có sự bất đồng giữa hai đồng chủ tịch Hội nghị là Mỹ và Liên Xô trong việc chọn Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan) hay Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc đại lục mới ra đời năm 1949).

Trong phiên họp ngày 5/9/1951, việc đòi hỏi cho quyền lợi của Trung Quốc đối với Quần đảo Paracel (Hoàng Sa) và Quần đảo Spratly (Trường Sa) đã được phái đoàn Liên Xô nêu ra. Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Andrey A. Gromyko đã đưa ra đề nghị gồm 13 khoản tu chính để chuẩn bị cho việc ký kết hòa ước thực sự với Nhật Bản. Trong đó có khoản tu chính liên quan đến việc : "Nhật Bản nhìn nhận chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với đảo Paracel (đảo Hoàng Sa) và những đảo xa hơn nữa dưới phía Nam". Nhưng với 48 phiếu chống và 3 phiếu thuận (Ba Lan, Liên Xô, Tiệp Khắc), Hội nghị đã bác bỏ yêu cầu này của Liên Xô. Như vậy, cái gọi là "danh nghĩa chủ quyền Trung Hoa" đối với các quần đảo ngoài khơi Biển Ðông Nam Á đã bị cộng đồng quốc tế bác bỏ rõ ràng trong khuôn khổ của một hội nghị quốc tế [6].

Ðoàn Chính phủ "Quốc gia Việt Nam" do Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Trần Văn Hữu làm trưởng đoàn. Ngày 7/9/1951 tại Hội nghị, có sự tham dự đầy đủ của phái đoàn 51 quốc gia, Trần Văn Hữu đã đọc bài tuyên bố (bằng tiếng Pháp) như sau :

Thật là nghiêm trọng và cảm kích cho Việt Nam đưọc đến San Francisco tham dự công việc của Hội nghị Hòa bình với Nhật Bản. Sở dĩ chúng tôi được hiện diện tại đây là nhờ các tử sĩ của chúng tôi và lòng hy sinh vô bờ bến của dân tộc chúng tôi, một dân tộc đã chịu dựng biết bao đau khổ để được sống còn và giành sự trường tồn cho một nòi giống đã có hơn bốn ngàn năm lịch sử.

Nếu mỗi dân tộc đã thống khổ do sự chiếm đóng của Nhật Bản, có quyền tham dự Hội nghị này, như tất cả diễn giả liên tiếp hai ngày nay đã đồng thanh nhìn nhận, mặc dù thuộc ý thức hệ nào đi nữa cũng vậy, thì cái quyền Việt Nam lên tiếng về Hòa ước Hòa bình với Nhật Bản lại càng dĩ nhiên hơn lúc nào hết, vì không ai không biết rằng, trong tất cả các quốc gia Á Châu, Việt Nam là một nước chịu nhiều đau khổ nhứt về tài sản cũng như về tính mạng người dân. Và tôi thiếu sót phận sự tối thiểu đối với dồng bào quá vãng nếu giờ phút này, tôi không hưóng một ý nghĩ thành kính đến số một triệu dân Việt mà do hoàn cảnh bi thảm của sự chiếm đóng đã đưa đến cái chết đau thương. Những hư hại vật chất mà đất nước chúng tôi gánh chịu không phải là ít, và toàn bộ nền kinh tế của chúng tôi bị ảnh hưởng một cách trầm trọng. Cầu cống và đường sá bị cắt đứt, làng xã bị triệt hạ hoàn toàn, nhà thương và trường học bị thiệt hại, bến tàu và đường sá bị đội bom, tất cả đều phải làm lại, đều cần thiết phải làm lại, nhưng than ôi cần có nguồn tài nguyên quá cao so với khả năng hiện hữu của chúng tôi.

Cho nên, trong lúc khen ngợi sự rộng lưọng của những tác giả dự án thỏa hiệp này, chúng tôi cũng trình bày ngay đây những quan điểm mà chúng tôi yêu cầu Hội nghị ghi nhận.

Là những người Á Châu, chúng tôi thành thật hân hoan trước những viễn tưởng mới mẻ mở rộng ra cho một quốc gia Á Ðông sau khi kết thúc thỏa hiệp hòa bình này. Chúng tôi sẽ hết sức cố gắng góp phần vào sự phục hưng của một dân tộc Á Ðông bình dị và cần mẫn như nước Nhật Bản đây. Chúng tôi tin chắc rằng những người dân Châu Á phải là những người phát khởi thịnh vưọng chung của mình. Họ cũng trông cậy nơi chính mình để xa lánh mọi chế độ đế quốc và trong việc thiết lập một trạng thái quốc tế mới, một sự liên đới Á Châu cũng cần thiết như một sự liên đới Âu Châu vậy.

Ðiều này không có ý muốn nói là sẽ có một ngày nào đó hai sự đoàn kết này sẽ chống đối lẫn nhau. Ðiều này chỉ muốn nói một cách giản dị là các dân tộc Châu Á một khi đã được các quốc gia Tây phương hoàn thành việc giúp đỡ họ xây dựng hòa bình, tôi nói rằng một khi mà hòa bình đã vãn hồi, các dân tộc Á Châu không thể sẽ là gánh nặng cho kẻ khác, mà trái lại họ phái nhớ nằm lòng, là họ phải tự bảo vệ mạng sống của họ bằng những phương tiện riêng của họ. Ðiều đó, ít nhất cũng là nguyện vọng của Việt Nam và dù cho có phái chịu nhiều thăng trầm cực nhọc, họ vẫn tự hào là không lúc nào để nhụt chí. Nhưng một dân tộc độc lập phải là một dân tộc tự hào, và cũng bởi sự tự hào, theo chúng tôi, có cái giá, giá đó tuy không thể nào bằng sự tự hào của Nhật Bản, mà chúng tôi tới đây để yêu cầu được chữ ký của 51 quốc gia hội viên của Hội nghị này mà tái lập lại một đời sống quốc gia xứng đáng và tự hào.

Tuy nhiên, nếu dự thảo hiệp ước này đòi hỏi thắng thắn cái quyền đền bồi lại tất cả những thiệt hại mà chính Nhật Bản hoặc là tác giả, hoặc ngẫu nhiên đã gây ra, những đền bù được dự liệu bằng các cung cấp dịch vụ, trong trường hợp của Việt Nam mà không được đền bồi bằng những nguyên liệu, thì chắc chắn sẽ chẳng có kết quả gì cả. Tất cả mọi thứ Việt Nam, cũng cần như Nhật Bản, một số trợ giúp quan trọng để tái tạo nền kinh tế của mình. Từ đó, nếu nhận những đền bù chánh yếu bằng những cung cấp dịch vụ thì chẳng khác nào như là đi tín nhiệm mọi thứ tiền không thể lưu hành ở xứ mình.

Do vậy, chúng tôi sẽ phải đòi hỏi nghiên cứu lại các phương thức bồi hoàn hữu hiệu hơn và nhất là chúng tôi phải tính, ngoại trừ những phương tiện tạm thời, tới một sự bồi thường chính thức vào cái ngày mà chúng tôi ước mong là sẽ rất gần, cái ngày mà nền kinh tế của Nhật Bản sẽ được phục hưng để họ có thể đương đầu với tất cả mọi bắt buộc. Việt Nam rất hào hứng ký nhận trước nhất cho công cuộc xây dựng hòa bình này.

Và để tận dụng không ngần ngại mọi cơ hội nhằm dập tắt những mầm mống tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi trên hai Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, từ xưa đến nay vẫn thuộc cương vực Việt Nam [7].

Tuyên bố xác nhận chủ quyền của Việt Nam đã được toàn thể cử tọa vỗ tay rất lâu, không hề có một phản ứng chống đối, yêu sách bảo lưu, hoặc yêu sách nào khác của 50 quốc gia còn lại tham dự Hội nghị [8].

Như vậy, hầu hết các quốc gia (48/51), đều phủ nhận đòi hỏi của Trung Quốc về chủ quyền các Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng lá phiếu phủ quyết đề nghị của đại diện Liên Xô về 13 khoản tu chính nêu tại Hội nghị. Ðồng thời cũng hầu hết các nước (48/51) tham dự Hội nghị không phản đối, nghĩa là chấp nhận việc ghi vào biên bản lời phát biểu của Thủ tướng Trần Văn Hữu xác định chủ quyền của Việt Nam đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hồ sơ toàn thể Hội nghị cùng lời phát biểu của Thủ tướng "Quốc gia Việt Nam" Trần Văn Hữu được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ấn hành ngay sau Hội nghị (U.S. Department of State (1951), Conference for the Conclusion and Signature of the Treaty of Peace with Japan, San Francisco, California, Sep., 4-8, 1951 : record of proceedings, Pub. : Washington, D.C. : Department of State, 1951), gửi cho tất cả các nước, cũng không bị nước nào phản đối, trừ Trung Quốc.

Ngày 8/9/1951, trừ Ba Lan, Liên Xô và Tiệp Khắc do bất đồng nên không ký, còn lại đại biểu 48 quốc gia đã ký Hiệp ước Hòa bình San Francisco, chính thức chấm dứt Chiến tranh thế giới thứ hai ở Viễn Ðông cũng như đánh dấu chấm hết cho sự tồn tại của chủ nghĩa quân phiệt Nhật. Thủ tướng Nhật Yoshida Shigeru đọc bài phát biểu "hòa giải" tại Nhà hát Opera San Francisco, sau đó thay mặt Chính phủ Nhật Bản ký Hiệp ước. Hiệp ước San Francisco bắt đầu có hiệu lục từ ngày 28/4/1952.

Nội dung Hòa ước, tại Ðiều 2 (Chương II) gồm 6 nội dung, trong đó tại nội dung "f" về Hoàng Sa, Trường sa" ghi rõ "Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa" (Japan renounces all right, title and claim to the Spratly Islands and to the Paracel Islands).

Toàn văn Ðiều 2 như sau :

a. Nhật Bản, trong khi công nhận nền độc lập của Triều Tiên, từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với Triều Tiên, kể cá các Quần đảo Quelpart Port Hamilton và Dagelet.

b. Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với vùng Formosa (Ðài Loan) và Pessadores (Bành Hồ).

c. Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với Quần đảo Kurile, đảo Skhalin và quần đảo nằm sát nước Nhật Bản, mà ở đó Nhật Bản đã giành được chủ quyền theo Hiệp ước Portsmouth ngày 5/9/1905.

d. Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi liên quan tới chế độ ủy trị của Hội Quốc liên và chấp nhận quyết định ngày 2/4/1947 của Hội đồng Báo an Liên Hiệp Quốc gia hạn chế độ ủy trị đối với các đảo Thái Bình Dương trước đây dưói quyền ủy trị của Nhật Bản.

e. Nhật Bản từ bỏ tất cả các đòi hỏi muốn có bất kỳ quyền, hoặc danh nghĩa, hoặc lợi ích nào liên quan tới bất cứ phần nào của vùng Nam Cực, dù đó là các hoạt động của các công dân Nhật Bản hoặc các hình thức khác.

f. Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa [9].

Article 2

a. Japan, recognising the independence of Korea, renounces all right, title and claim to Korea, including the islands of Quelpart, Port Hamilton and Dagelet.

b. Japan renounces all right, title and claim to Formosa and the Pescadores.

c. Japan renounces all right, title and claim to the Kurile Islands, and to that portion of Sakhalin and the islands adjacent to it over which Japan acquired sovereignty as a consequence of the Treaty of Portsmouth of September 5th, 1905.

d. Japan renounces all right, title and claim in connection with the League of Nations Mandate System, and accepts the action of the UN Security Council of April 2nd, 1947, extending the trusteeship system to the Pacific islands formerly under mandate to Japan.

e. Japan renounces all claim to any right or title to or interest in connection with any part of the Antarctic area, whether deriving from the activities of Japanese nationals or otherwise.

f. Japan renounces all right, title and claim to the Spratly Islands and to the Paracel Islands.

Ðiều 2 của Hiệp ước đã tái lập sự toàn vẹn lãnh thổ cho những quốc gia bị quân Nhật chiếm đóng trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong các vùng lãnh thổ mà Nhật phải từ bỏ, chỉ duy nhất có nêu các đảo sẽ trả cho Triều Tiên, trong khi các lãnh thổ còn lại không được nói sẽ trả cho ai. Bởi vì người chủ của các lãnh thổ này đã quá rõ ràng trước khi bị Nhật cưỡng chiếm. Do đó, việc Nhật Bản tuyên bố từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa cũng có nghĩa là Nhật Bản trả lại chủ quyền của hai quần đảo mà nước này chiếm đóng trong giai đoạn 1939 – 1946 cho Việt Nam, đúng theo lời khẳng định chủ quyền của Thủ tướng "Quốc gia Việt Nam" Trần Văn Hữu. Chủ quyền đối với hai quần đảo này do vậy, hiển nhiên thuộc về Việt Nam. Mà trong thực tế, từ trước và sau Hội nghị San Francisco, toàn bộ hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn do lực lượng đồn trú của Quốc gia Việt Nam trấn giữ.

Như vậy, các vùng lãnh thổ mà Nhật Bản chiếm đóng được Tuyên bố Caio năm 1943, Tuyên ngôn Postdam năm 1945 xác nhận và Hòa ước San Francisco khẳng định lại, đã không công nhận chủ quyền của bất cứ quốc gia nào khác đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Ðồng thời, tuyên bố của Việt Nam tại Hội nghị về chủ quyền của mình đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận.

Về phía Trung Quốc, khi thấy bị gạt ra khỏi Hội nghị, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã phản ứng bằng cách ra một số bản tuyên bố chính thức, đồng thời cho đăng các bài báo để lên án Mỹ về việc không mời Trung Quốc tham dự Hội nghị để trình bày quan điểm của họ. Một trong những quan điểm này là đòi hỏi chủ quyền trên hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy tuyên bố Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) là lãnh thổ của Trung Hoa, nhưng vào lúc đó Trung Quốc lại không đưa ra được một chi tiết nào để chứng minh chủ quyền đối với hai quần đảo này. Và cho đến tận ngày nay, sau khi chứng cứ về Trịnh Hòa và Lý Chuẩn không đủ sức thuyết phục, Trung Quốc vẫn chỉ có một lập luận là họ có chủ quyền ngay từ thời Cổ đại.

Trước khi Hòa ước San Francisco được ký kết ngày 8/9/1951, Trung Quốc khi nghiên cứu Dự thảo do Anh/Mỹ soạn thảo và được Mỹ gửi cho các quốc gia được mời tham dự Hội nghị, thấy Ðiều 2 của dự thảo Hòa ước không quy định hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Nhật Bản phải từ bỏ sẽ được trao cho quốc gia nào, ngày 15/8/1951, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Chu Ân Lai vội vã tuyên bố :

Dự thảo Hiệp ước quy định là Nhật Bản sẽ từ bỏ mọi quyền đối với Quần đảo Nam Uy (Spratly, Trường Sa) và Quần đảo Tây Sa (Paracel, Hoàng Sa), nhưng lại cố tình không đề cập tới vấn đề khôi phục chủ quyền trên hai quần đảo này. Thực ra, cũng như các quần đảo Nam Sa, Trung Sa và Ðông Sa, Quần đảo Tây Sa (Paracel, Hoàng Sa) và Quần đảo Nam Uy (Spratly, Trường Sa) lúc nào cũng là lãnh thổ của Trung Quốc [10].

Vấn đề là ở chỗ, tuyên bố ngày 15/8/1951 đã cố tình đi ngược lại tinh thần tuyên bố ngày 4/12/1950 của chính Chu Ân Lai là yêu cầu Hội nghị San Francisco phải thực hiện Tuyên bố Cairo, Hòa ước Yalta và Tuyên ngôn Potsdam. Một trong những nguyên nhân khiến Trung Quốc chống lại Hòa ước San Francisco là vì nước này không được tham dự. Thực ra, tại Hội nghị San Francisco, Liên Xô đã tích cực vận động cho chủ quyền của Trung Quốc tại "đảo Paracel và các hòn đảo xa hơn về phía Nam", nhưng hầu hết các quốc gia đều không công nhận. Vì điều này trái với công pháp quốc tế và với những thực tế đã diễn ra trên hai quần đảo này, mà các quốc gia đồng minh tham chiến vừa mới chứng kiến. Tại Hội nghị San Francisco, tất cả các nước tham dự đều biết rõ Nhật Bản đã chiếm hai quần đảo này từ tay người Pháp. Lẽ phải và sự thật lịch sử ấy đã được tôn trọng, cho dù Trung Quốc có tham dự Hội nghị San Francisco hay không.

Nghiên cứu Hiệp ước San Francisco có thể thấy, tuy không nêu cự thể, nhưng các vùng lãnh thổ liên quan đến quốc gia nào thì đều được thể hiện trong cùng một khoản, ví như : các Quần đảo Quelpart Port Hmilton và Dagelet liên quan đến Triều Tiên (khoản a) ; Quần đảo Kurile và đảo Sakhalin liên quan đến Nga (khoản c). Trong khi đó, Ðài Loan, Bành Hồ (liên quan đến Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) và hai Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa được sắp xếp ở hai khoản tách biệt nhau (b và f). Ðiều này, tự nó đã bao hàm ý nghĩa : quốc tế không công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc. Hơn thế nữa, trong phiên họp toàn thể ngày 5/9/1951 Hội nghị đã bác bỏ chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với "đảo Hoàng Sa cùng những đảo xa hơn nữa ở phía Nam".

Ngày 16/3/1974, tức là chỉ hơn một tháng sau ngày Trung Quốc cưỡng chiếm toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa, tại nhà riêng của mình ở Paris, cựu Thủ tướng Chính phủ "Quốc gia Việt Nam" Trần Văn Hữu đã trả lời phỏng vấn : "Chủ quyền Việt Nam trên Quần đảo Hoàng Sa đã được công khai tuyên bố nơi Hội nghị Hòa bình với Nhật năm 1951 vào tháng 9 dương lịch tại San Francisco. Lúc ấy là lần đầu tiên mà Việt Nam vào hàng 50 cường quốc có quyền định đoạt vấn đề quốc tế (…). Với tánh cách Chủ tịch phái đoàn đại diện cho toàn cõi Việt Nam, trong một bài diễn văn đọc ngày bế mạc hội nghị, tôi long trọng tuyên bố xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên cả Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 50 phái đoàn cường quốc im lặng nghe lời tuyên bố của phái đoàn Việt Nam (…) hoàn toàn công nhận, không gặp một quốc gia nào phản đối" [11].

Về những sự kiện liên quan đến hoạt động của Trần Văn Hữu đại diện cho Việt Nam với tính cách là Thủ tướng của chính quyền "Quốc gia Việt Nam" mà Bảo Ðại là Quốc trưởng tại Hội nghị San Francisco, "Sách Trắng" của Bộ Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1988 viết : "Năm 1950, Pháp chính thức giao quyền quản lý hai quần đảo cho chính quyền Việt Nam. Năm 1951 tại Hội nghị San Francisco, Thủ tướng của chính quyền Bảo Ðại lúc đó là Trần Văn Hữu đã ra tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo, lời tuyên bố này đã không vấp phải bất kỳ một sự phản đối nào từ hội nghị" [12].

Xung quanh những vấn đề có liên quan đến thái độ của Trung Quốc và Liên Xô trong việc trả lại chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa cho Việt Nam ở Hội nghị San Francisco năm 1951, Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, viết :

"Cho dù chỉ là một chính phủ bù nhìn được Pháp dựng lên, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Chính phủ Bảo Ðại Trần Văn Hữu đã là đại diện duy nhất của Việt Nam được mời tham dự hội nghị… Trung Quốc đại lục và Ðài Loan không được mời tham dự Hội nghị San Francisco do Mỹ – Xô không thống nhất được địa vị pháp lý chính thức của hai nước này. Dù bị gạt ra khỏi hội nghị, Trung Quốc vẫn phản ứng bằng cách ra một số tuyên bố chính thức, trong đó có nêu quan điểm đòi hỏi chủ quyền trên hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Với ý nghĩa bảo vệ phe Xã hội chủ nghĩa, Liên Xô đã ủng hộ quan điểm của Trung Quốc và không thừa nhận Hiệp ước San Francisco năm 1951. Chính sách đối ngoại không mấy quan tâm tới các quốc gia thuộc địa nhỏ ở Châu Á vẫn tiếp tục trong giai đoạn Stalin nắm quyền và mối nghi ngờ về ý đồ trung lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn tồn tại, tiếp tục ngăn cản Liên Xô có sự hỗ trợ cho cuộc chiến kháng Pháp của Việt Minh. Chính sách này vẫn không có nhiều biến chuyển sau khi Stalin qua đời năm 1953.

Chúng tôi nghĩ rằng, thái độ của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện trong Sách Trắng cùng nhận xét của một nhà tình báo chiến lược vừa nêu, đã thể hiện đủ rõ những sự thật lịch sử cần được tôn trọng [13].

(Hồ Sĩ Quý, Nghiên cứu quốc tế, 01/02/2026)

Chú giải :

[1] Xem : 1) Hồ Chí Minh (2023), Thư gửi nước Mỹ, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội ; 2) Dixee R. Bartholomew-Feis (2007), OSS và Hồ Chí Minh – Ðồng minh bất ngờ trong cuộc chiến chống phát xít Nhật, Lê Lương Giang dịch, Nhà xuất bản Thế giới (Tác giả Dixee R. Bartholomew-Feis, là tiến sĩ khoa học lịch sử, Ðại học Buena Vista, Mỹ. Cuốn sách này xuất bản lần đầu tại Nhà xuất bản Ðại học Kansas, 2006. Bà Bartholomew-Feis cũng là tác giả viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong "Encyclopedia of Military Science", Sage Pub., 2013).

[2] Xem : (1945 – 1946), University of California Press. Xem : Chương IV, (Nguyễn Tuấn Anh dịch).

[3] Harris M. Lend III (2011), Encyclopedia of Heads of States and Governments, 1900 through 1945, Pub. : McFarland & Company, Inc. Jefferson, North Carolina, and London. c. 473.

[4] Republic of Vietnam (1975), White Paper, Sđd, tr. 52, (Việt Binh Ðoàn, lực lượng "Ðịa phương quân" được Tướng Phan Văn Giáo thành lập năm 1949 ở miền Nam dưới chính quyền Bảo Ðại, nhưng thực chất là quân đội bản xứ độc lập với quân đội Pháp. Sau năm 1955, Việt Binh Ðoàn là thành phần chính của quân đội Việt Nam Cộng hòa).

[5] Xem : Dzurek, Daniel J. (1996), The Spratly Islands Dispute : Who’s On First ?, Maritime Briefing, Volume 2, No.1.

[6] Xem : 1) Phạm Ngọc Bảo Liêm (2010), Hội nghị San Francisco với vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, "Xưa và Nay", số 360, 7/2010 ; 2) Lee, Seokwoo (2002), The 1951 San Francisco Peace Treaty with Japan and the Territorial Disputes in East Asia, 11 Pac. Rim L & Pol’y J. 63 (2002) ; 3) Trần Gia Phụng (2014), Hoàng Sa và Trường Sa trong Hội nghị San Francisco 1951, https:// phanchautrinhdanang. org/hoangsavatruongsa.html.

[7] Viet-Nam Déclaration du Président Tran-van-Huu (1951), Les États associés à la Conférence de San Francisco les 6 et 7 Septembre 1951, "France-Asie. Revue de Cuture et de Synthèse Franco-Asiatique", Saigon, Décembre 1951, Tome VII. 6e Année, 66-67, pp. 503-505, Thư viện Viện Thông tin Khoa học xã hội, Ký hiệu kho : 80 7738 (1951), OCTO 18305.

[8] Xem : 1) Phạm Ngọc Bảo Liêm (2010), Hội nghị San Francisco với vấn dề chú quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tlđd ; 2) Trần Gia Phụng (2014), Hoàng Sa và Trường Sa trong Hội nghị San Francisco 1951… tlđd.

[9] Multilateral Treaty of Peace With Japan (The San Francisco Peace Treaty) 8th September, 1951.

[10] Zhou, Enlai (1951), Foreign Minister Chou En-lai’s statement on the U.S.-British draft peace treaty with Japan and the San Francisco Conference : August 15, 1951.

[11] Giao Hưởng, Hoàng Sa trên dien dàn quốc tế San Francisco, 2015.

[12] Bộ Ngoại giao, Các Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và luật pháp quốc tế, (Sách Trắng), Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1988, tr. 5.

[13] Nguyễn Văn Hưởng (2016), Phán xét : Các nước lớn đã can thiệp vào chiến tranh Việt Nam như thế nào, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 627-628.

*******************************
5. Hoàng Sa và Trường Sa từ sau Hội nghị San Francisco năm 1951

Ngày 19/8/1945 Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập tại Quảng Trường Ba Ðình, chấm dứt chế độ thuộc địa của Pháp.

Hiệp định Genève ký kết ngày 20/7/1954 chấm dứt chiến tranh ở Ðông Dương, công nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ðiều 1 của Hiệp định quy định đường ranh tạm thời về quân sự được ấn định bởi sông Bến Hải (ở vĩ tuyến 17). Ðường ranh giới tạm thời này cũng được kéo dài ra trong hai phần bằng một đường thẳng từ bờ biển ra ngoài khơi theo Ðiều 4 của Hiệp định. Cũng theo Ðiều 14 của bản Hiệp định, trong khi chờ đợi cuộc tổng tuyển cử đưa lại sự thống nhất cho Việt Nam, bên đương sự và quân đội do thoả hiệp tập kết ở khu nào sẽ đảm nhiệm việc hành chính trong khu tập kết đó. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Ðông ở dưới vĩ tuyến 17 sẽ đặt dưới sự quản lý hành chính của phía chính quyền quản lý miền Nam vĩ tuyến 17.

Nghĩa là toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa theo Hiệp định Genève thuộc quyền quản lý của chính quyền miền Nam (Quốc gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng hòa).

- Tranh chấp chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa từ năm 1951 đến năm 1975

Việc Pháp thua trận ở Ðiện Biên Phủ và ký Hiệp định Genève ngày 20/7/1954, buộc quân đội và chính quyền Pháp phải rút lui khỏi Việt Nam tháng 4/1956. Thực tế này để khoảng trống bố phòng ở Biển Ðông khiến các nước trong khu vực trong đó có Trung Quốc đại lục (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa), Ðài Loan (Trung Hoa Dân Quốc) và Philippines cho là cơ hội tốt để có thể đưa yêu sách và thực hiện chiếm đóng trái phép Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Tháng 4/1956, khi quân viễn chinh Pháp rút khỏi miền Nam Việt Nam, Philippines nêu yêu sách về vấn đề chủ quyền.

Khi ấy, quân đội Quốc gia Việt Nam sau là Việt Nam Cộng hòa đã chiếm đóng các đảo phía tây của Quần đảo Hoàng Sa bao gồm đảo Hoàng Sa (Pattle) và các đảo lân cận. Ngày 1/6/1956, Ngoại trưởng chính quyền Việt Nam Cộng hòa Vũ Văn Mẫu ra tuyên bố tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vài ngày sau, Pháp cũng nhắc lại cho Philippines biết những quyền mà Pháp đã có đối với hai quần đảo trên từ năm 1933.

Ngày 22/8/1956, lục quân và hải quân Việt Nam Cộng hòa đổ bộ lên các đảo chính của Quần đảo Hoàng Sa và dựng bia, kéo cờ. Sau khi trấn giữ ở các đảo phía tây Quần đảo Hoàng Sa, cùng ngày lực lượng hải quân của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã đổ bộ lên các hòn đảo chính của nhóm Trường Sa, dựng bia cột đá và kéo cờ khẳng định chủ quyền.

Tháng 10/1956, hải quân Ðài Loan đến chiếm đảo Ba Bình (Itu Aba).

Ngày 22/10/1956, Sắc lệnh số 143 – NV của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa thay đổi địa giới các tỉnh và tỉnh lỵ tại "Nam Việt" (Nam Bộ). Theo sắc lệnh này, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu được gọi là tỉnh Phước Tuy và Quần đảo Trường Sa là địa phận thuộc tỉnh Phước Tuy.

Trong khi ấy, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng đã nhanh chóng chiếm giữ đảo Phú Lâm (Ile Boisée), đảo lớn nhất của Quần đảo Hoàng Sa, song hành với việc Ðài Loan chiếm giữ Ba Bình đảo lớn nhất của Quần đảo Trường Sa.

Tháng 2/1959, nhiều dân chài Trung Quốc định đến đóng trên phần phía tây Quần đảo Hoàng Sa, nhưng không thành công, bị hải quân Việt Nam Cộng hòa bắt và trả lại cho phía Trung Quốc.

Ngày 13/7/1961, Sắc lệnh số 174 – NV của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa đặt Quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy tên là xã Ðịnh Hải trực thuộc quận Hòa Vang : "Quần đảo Hoàng Sa trước kia thuộc tỉnh Thừa Thiên, nay đặt thuộc tỉnh Quảng Nam" (Ðiều 1). Ðặt đơn vị hành chính xã bao gồm trọn quần đảo này được thành lập và lấy danh hiệu là xã Ðịnh Hải, trực thuộc quận Hòa Vang. Xã Ðịnh Hải dưới quyền một phái viên hành chính (Ðiều 2).

Ngày 13/7/1961, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Ðình Diệm ký Sắc lệnh số 174-NV về việc đặt Quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy danh là xã Ðịnh Hải thuộc quận Hòa Vang tỉnh Quảng Nam. Năm 1973 thuộc tỉnh Phước Tuy.

Về những sự kiện liên quan đến hoạt động của Việt Nam tại hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong khuôn khổ thể chế chính quyền "Quốc gia Việt Nam" của Bảo Ðại từ năm 1949 đến năm 1955, và "Việt Nam Cộng hòa" từ năm 1955 đến năm 1975, "Sách Trắng" của Bộ Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố năm 1988 viết :

"Sau khi Hiệp định Giơnevơ năm 1954 được ký kết, đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Phần lãnh thổ phía Nam Việt Nam từ vĩ tuyến 17 (bao gồm cả hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) trở vào tạm thời được đặt dưới sự quản lý của các chính quyền miền Nam Việt Nam.

Năm 1956, khi rút quân khỏi Việt Nam, Pháp đã chuyển giao sự quản lý phần lãnh thổ phía Nam Việt Nam cho chính quyền Sài Gòn. Theo đó, chính quyền Sài Gòn đã tổ chức việc đưa quân ra tiếp quản hai quần đảo, đồng thời tổ chức lại về mặt hành chính (coi mỗi quần đảo là một xã thuộc một huyện trong đất liền), cho xây dựng các bia chủ quyền tại các đảo chính, duy trì các trạm khí tượng và đăng ký chúng vào danh mục các trạm của Tổ chức Khí tượng Thế giới (OMM), cho một số nhà kinh doanh ra khai thác phân chim ở Hoàng Sa đồng thời liên tục cử các nhà khoa học ra hai quần đảo nghiên cứu.

Lợi dụng sự xáo trộn về chính trị, vào các năm 1956 (Pháp rút khỏi Ðông Dương) và năm 1974 chính quyền Sài Gòn đang phải đương đầu với các cuộc tiến công như vũ bão của lực lượng vũ trang của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, quân đội Trung Quốc đã dùng vũ lục lần lượt chiếm đóng phần phía đông (năm 1956) và sau đó là phần phía tây quần đảo (năm 1974), xâm chiếm toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Chính quyền Sài Gòn đã kịch liệt phản đối và đã thông báo cho các nước và Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc về sự kiện này. Cũng vào thời gian đó, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra tuyên bố lập trường ba điểm về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo, bao gồm việc các bên phải cùng nhau thương lượng để giải quyết vấn đề" [1].

Vấn đề là ở chỗ, đây là những sự kiện được ghi và được đánh giá trong Sách Trắng của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mà Sách Trắng của bất kỳ quốc gia nào, cũng không chỉ là thái độ cần thể hiện của các quốc gia đó, mà còn là sự thừa nhận tính xác thực của các sự kiện đã diễn ra trong lịch sử được mô tả trong Sách Trắng.

Từ năm 1961 đến năm 1963, chính quyền Sài Gòn lần lượt dựng bia chủ quyền ở các đảo Trường Sa, An Bang, Song Tử Tây, Song Tử Ðông, Thị Tứ, Loại Ta thuộc Quần đảo Trường Sa. Nghị định số 709-BNV-HCDP-2đ ngày 21/10/1969 của Thủ tướng chính quyền Sài Gòn, sát nhập xã Ðịnh Hải (Quần đảo Hoàng Sa) vào xã Hòa Long, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

Ngày 13/7/1971, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa, ông Trần Văn Lắm có mặt ở Manila đã lên tiếng nhắc nhở Philippines về chủ quyền của Việt Nam và các danh nghĩa làm cơ sở cho những yêu sách đó trên Quần đảo Trường Sa.

Ngày 9/1/1973, Hội đồng Nội các chính thể Sài Gòn ra quyết định sát nhập các đảo Trường Sa (Trường Sa Lớn hiện nay), An Bang, Itu Aba, Song Tử Ðông, Song Tử Tây, Loại Ta, Thị Tứ, Nam Yết, Sinh Tồn và các đảo phụ cận thuộc Quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Ðất Ðỏ, tỉnh Phước Tuy.

Ngày 6/9/1973, Nghị định số 420-BNV-HÐP/26đ của Bộ trưởng Bộ Nội vụ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã thi hành quyết định của Hội đồng Nội các ngày 9/1/1973 về việc sát nhập các đảo (vừa nói) thuộc Quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Ðất Ðỏ, tỉnh Phước Tuy. Nghị định cũng đồng thời sửa đổi sắc lệnh gọi Quần đảo Spratly là Quần đảo Hoàng Sa mà trước đó, Sắc lệnh số 143-NV ngày 22/10/1956 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa đã ký.

Trong bối cảnh sau Thông cáo chung Thượng Hải năm 1972 (Thông cáo chung Mỹ – Trung khi Nixon đến Trung Quốc), sự nứt rạn không thể hàn gắn giữa Liên Xô và Trung Quốc ngày càng gia tăng, trong khi đó, Chiến tranh Việt Nam đang ở giai đoạn gần kết thúc – cục diện chính trị thế giới biến đổi theo chiều không tích cực đó đã ảnh hưởng trục tiếp đến đời sống chính trị Việt Nam. Mà, một trong những điểm nóng, nhạy cảm thể hiện quan hệ Mỹ – Trung lúc đó, Hoàng Sa. Không ngẫu nhiên mà tin tức về hai quần đảo đột nhiên trở thành điểm nóng trên diễn đàn chính trị Trung Quốc lúc đó.

Ngày 11/1/1974, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố việc Chính phủ Việt Nam Cộng hòa sát nhập các đảo của Quần đảo Trường Sa vào tỉnh Phước Tuy là sự lấn chiếm lãnh thổ Trung Quốc và khẳng định lại các yêu sách của Trung Quốc đối với hai Quần đảo Tây Sa và Nam Sa (Hoàng Sa và Trường Sa theo cách gọi của Trung Quốc). Ngày 12/1/1974, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tuyên bố bác bỏ yêu sách của Trung Quốc.

Ngày 15/1/1974, Trung Quốc đại lục bắt đầu triển khai một lực lượng hải quân mạnh mẽ trong đó có nhiều tàu được ngụy trang thành tàu đánh cá và có phi cơ yểm trợ tiến đến Hoàng Sa. Ðáp lại tình hình, Bộ Tư lệnh hải quân Việt Nam Cộng hòa đã điều động tuần dương hạm Lý Thường Kiệt đến Hoàng Sa để tuần phòng và trực tác chiến.

Sau khi phát hiện sự có mặt của quân đội Trung Quốc tại vùng Hoàng Sa với cờ dựng trên các đảo Quang Anh (Money), Hữu Nhật (Robert), lực lượng quân đội Việt Nam Cộng hòa được tăng cường với khu trục hạm Trần Khánh Dư, tuần dương hạm Trần Bình Trọng, hộ tống hạm Nhật Tảo. Lực lượng tăng cường của Việt Nam Cộng hòa có các đơn vị biệt kích được lệnh đổ bộ đến các đảo hạ cờ của quân đội Trung Quốc. Những vụ xô xát đã xảy ra, súng đã nổ trên đảo Quang Hòa (Duncan) và một đảo khác.

Tiếp đó, ngày 16/1/1974, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã ra tuyên cáo bác bỏ luận cứ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và đưa ra những bằng chứng rõ ràng về pháp lý, địa lý, lịch sử để xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng hòa trên hai quần đảo này. Hai bên bắt đầu bố trí lực lượng, các chiến hạm hai bên cách nhau chừng 200m. Sau đó hai bên bất ngờ tách rời nhau.

Và, cuộc hải chiến bắt đầu diễn ra vào lúc 10 giờ 25 phút ngày 19/1/1974. Một chiến hạm Trung Quốc bị bốc cháy. Các chiến hạm Trung Quốc mang số hiệu 281, 182 dồn sức đánh trả khiến chiến hạm Nhật Tảo bị trúng đạn trên đài chỉ huy và hầm máy chính. Hạm trưởng Ngụy Văn Thà hy sinh. Sau hơn 1 giờ giao chiến, 2 chiến hạm Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chìm, 2 chiếc khác bị bắn cháy. Lực lượng Việt Nam Cộng hòa ngoài hộ tống hạm Nhật Tảo bị chìm, còn có một số chiến hạm bị thương tổn, trong đó có một số binh sĩ bị bắt và mất tích. Một người Mỹ tên Gerald Kosh, nhân viên dân sự thuộc văn phòng tuỳ viên quốc phòng tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, được biệt phái làm liên lạc viên cạnh bộ chỉ huy hải quân Quân khu I Việt Nam Cộng hòa cũng bị bắt (theo Nhật báo Chính Luận, số 2982, ngày 31/1/1974). Kosh được trao trả lúc 12 giờ trưa ngày 31/1/1974. Ngày 17/2/1974, chính quyền ở Bắc Kinh trả tự do cho 43 quân nhân và nhân viên của Việt Nam Cộng hòa tại Tân Giới (Hồng Kông).

Trong cuộc chiến Hoàng Sa năm 1974, 75 sĩ quan và binh sĩ Sài Gòn đã hy sinh, Trung Quốc chiếm toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa [2].

Bối cảnh và diễn biến Hải chiến Hoàng Sa năm 1974

Qua thông điệp ngoại giao được gửi đến tất cả các nước ký Hiệp định Paris (năm 1973), chính quyền Việt Nam Cộng hòa nhắc lại sự đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, yêu cầu Hội đồng Bảo an tổ chức một phiên họp đặc biệt cho nội dung này.

Ngày 1/2/1974, chính quyền Sài Gòn quyết định tăng cường phòng thủ các đảo ở Quần đảo Trường Sa, đưa lực lượng ra đóng ở 5 đảo thuộc Trường Sa. Qua đại sứ ở Manila, chính quyền Sài Gòn một lần nữa khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Ngày 1/2/1974, đoàn đại biểu của Việt Nam Cộng hòa ra tuyên bố tại Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển Caracas khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo, tố cáo Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa. Ngày 30/3/1974, đại biểu chính quyền Việt Nam Cộng hòa khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Hội đồng kinh tài viễn đông họp tại Colombia. Ngày 14/2/1975, Bộ Ngoại giao chính quyền Việt Nam Cộng hòa công bố Sách Trắng về Hoàng Sa và Trường Sa.

Về việc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dùng vũ lục xâm chiếm toàn bộ Hoàng Sa năm 1974, sách Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua do Nhà xuất bản Sự thật công bố năm 1979, viết :

"Ngày 19/1/1974, tức là một ngày sau khi phía Trung Quốc nhận đàm phán với phía Việt Nam về vấn đề Vịnh Bắc Bộ, họ sử dụng lực lượng hải quân và không quân tiến đánh quân ngụy Sài Gòn và chiếm đóng Quần đảo Hoàng Sa từ lâu vốn là bộ phận lãnh thổ Việt Nam. Họ nói là để tự vệ, nhưng thực chất đó là một hành động xâm lược, một sự xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam để khống chế Việt Nam từ mặt biển và từng bước thực hiện mưu đồ độc chiếm Biển Ðông. Hành động xâm lược của họ có tính toán từ trước và được sự đồng tình của Mỹ. Vì vậy, khi đó Ðại sứ Mỹ G. Martin ở Sài Gòn đã bác bỏ yêu cầu cứu viện của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và hạm đội Mỹ ở Thái Bình Dương đã được lệnh tránh xa Quần đảo Hoàng Sa.

Trong cuộc hội đàm với những người lãnh đạo Việt Nam năm 1975, Phó Thủ tướng Ðặng Tiểu Bình đã thừa nhận rằng hai bên đều nói các Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của mình, cho nên cần gặp gỡ để bàn bạc giải quyết. Ðiều đó càng chứng tỏ hành động của phía Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa là ngang ngược, bất chấp luật pháp quốc tế, gây ra một tình trạng việc đã rồi" [3].

Về việc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dùng vũ lục xâm chiếm toàn bộ Hoàng Sa năm 1974, Sách Trắng của Bộ Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố năm 1988 cũng viết rõ : "Lợi dựng sự xáo trộn về chính trị, vào các năm 1956 (Pháp rút khỏi Ðông Dương) và năm 1974 chính quyền Sài Gòn đang phải đương đầu với các cuộc tiến công như vũ bão của lực lượng vũ trang của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, quân đội Trung Quốc đã dùng vũ lực lần lượt chiếm đóng phần phía đông (1956) và sau đó là phần phía tây quần đảo (1974), xâm chiếm toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Chính quyền Sài Gòn đã kịch liệt phản đối và đã thông báo cho các nước và Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc về sự kiện này (Ngay sau khi Trung Quốc cho máy bay ném bom xuống các đảo này, quan sát viên của Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc yêu cầu Hội đồng Bảo an xem xét vấn đề này). Cũng vào thời gian đó, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra tuyên bố lập trường ba điểm về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo, bao gồm việc các bên phải cùng nhau thương lượng để giải quyết vấn đề" [4].

Về thông tin Mỹ "đi đêm" với Trung Quốc và phản bội Sài Gòn trong vụ Hoàng Sa năm 1974 (hành động xâm lược của Trung Quốc có tính toán từ trước và được sự đồng tình của Mỹ, đại sứ Mỹ lúc đó ở Sài Gòn đã bác yêu cầu cứu viện và hạm đội Mỹ ở Thái Bình Dương được lệnh tránh xa Hoàng Sa), về sau phía Mỹ và cả Henry Kissinger cũng cố tình phủ nhận hoặc lảng tránh. Nhưng nhiều tài liệu lại minh định rằng, thông tin đó ít nhất không quá xa sự thật : Khi sự kiện hải chiến Hoàng Sa đang diễn ra ngày 17 – 19/1/1974), quân đội Mỹ được chính quyền Sài Gòn yêu cầu can thiệp, nhưng Mỹ vẫn quyết định đứng ngoài xung đột. Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ lúc đó, Arthur Hummel cho chính quyền Sài Gòn biết, Mỹ không quan tâm đến vấn đề Hoàng Sa. Biên bản cuộc họp ngày 25/1/1974 (một tuần sau sự kiện), do Ngoại trưởng Mỹ lúc đó Henry Kissinger chủ trì, đã phản ánh khá rõ thái độ của Mỹ. Ðược trích đăng trong bài báo của BBC ngày 3/10/2011, Biên bản cuộc họp ngày 25/1/1974 ghi rõ : Ðô đốc Moorer xác nhận lại với Henry Kissinger : "Chỉ thị của tôi là tránh xa khỏi toàn bộ khu vực" ; Ngoại trưởng Kissinger nói : "Hoa Kỳ không có lập trường trong việc ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Nam Việt Nam tại các đảo này" [5].

Về thái độ này của Mỹ, Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, nhà tình báo chiến lược, trong cuốn sách năm 2016 của mình, cũng viết : "Khi Hoa Kỳ và Trung Quốc không còn là hai kẻ thù không đội trời chung, mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Liên Xô cũng giảm bớt căng thẳng, Hoa Kỳ đã nỗ lực vận dựng mối quan hệ này để giải bài toán khó nhất của cuộc Chiến tranh lạnh – Việt Nam. Hoa Kỳ đã không ít lần gây sức ép lên Liên Xô đến để nước này ép buộc Việt Nam đồng ý với các điều kiện đàm phán của Mỹ trong các cuộc mật đàm ở Paris. Với Trung Quốc, Mỹ và Trung Quốc đã "nhanh chóng phát triển mối quan hệ hợp tác ngầm trong phạm vi tranh chấp của thế giới thứ ba" (Nguyễn Văn Hưởng trích Jentleson B.W.), mà Việt Nam là tâm điểm sau cuộc viếng thăm bất ngờ của Richard Nixon tới Bắc Kinh năm 1972. Không có những bằng chứng xác thực nhưng vụ Trung Quốc chiếm Quần đảo Hoàng Sa tháng 1 năm 1974 nhiều khả năng là sự thỏa hiệp ngầm giữa tình báo hai nước lớn này" [6].

Về cuộc hải chiến Hoàng Sa năm 1974, nhiều nước trên thế giới đã lên án Trung Quốc, ủng hộ Việt Nam, trong đó có Liên Xô. Lúc đó Liên Xô đã yêu cầu Liên Hiệp Quốc phải buộc Trung Quốc ngồi vào bàn đàm phán với các bên có liên quan đến sự kiện này.

***

Như vậy, thực tế tình hình ở hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn trước và sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai có những sự thật đáng chú ý :

Khi Pháp tái xâm chiếm Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) bùng nổ, nhưng Pháp vẫn làm chủ Biển Ðông và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Hiệp định Genève năm 1954 quy định từ vĩ tuyến 17 xuống phía Nam, lãnh thổ và hải đảo Việt Nam thuộc chính quyền phía Nam quản lý, lúc đó Pháp đã bàn giao toàn bộ chủ quyền hai quần đảo cho chính phủ Bảo Ðại mà từ năm 1955 là chính quyền Ngô Ðình Diệm. Lợi dựng tình thế rối ren hậu chiến, Trung Quốc xâm chiếm trái phép đảo Phú Lâm (Quần đảo Hoàng Sa) từ năm 1956. Ðài Loan chiếm đảo Ba Bình, lớn nhất của Quần đảo Trường Sa cũng năm 1956. Năm 1968 Philippines chiếm một số đảo, đá trong đó có Song Tử Ðông ở Trường Sa.

Trong suốt thời gian chiến tranh (1954 – 1975), Việt Nam bị chia cắt khiến cả hai chính quyền Bắc và Nam Việt Nam bị cuốn vào chiến tranh, nhưng phía Việt Nam Cộng hòa vẫn thực thi các hành động trên hai quần đảo : thường xuyên đồn trú, phân vùng hành chính để quản lý, đặt bia chủ quyền trên các đảo (ngày 19/5/1963 ở đảo Trường Sa ; ngày 20/5/1963 ở đảo An Bang ; ngày 22/5/1963 ở đảo Thị Tứ và Loại Ta ; ngày 24/5/1963 ở đảo Song Tử Ðông và đảo Song Tử Tây). Ðầu năm 1974, ngay sau khi bị mất Hoàng Sa về tay Trung Quốc, hải quân Việt Nam Cộng hòa đã tiến hành chiến dịch "Trần Hưng Ðạo 48", bất ngờ đổ quân chiếm lại đảo Song Tử Tây. Tình huống năm 1974 ở Hoàng Sa để lại nỗi đau cho các thế hệ, nhưng có nguyên nhân ở việc Trung Quốc đã lợi dựng tình thế, "đi đêm" với Mỹ sau cuộc gặp gỡ năm 1972, nên mới xâm chiếm được toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa.

Năm 1975 Việt Nam thống nhất, ngay tháng 4/1975 Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tiếp quản toàn bộ các đảo ở Trường Sa. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và từ năm 1976 là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thực thi nhiều hoạt động rất căn bản và thực tế để khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa [7]. Nhiều đảo tại Quần đảo Trường Sa được triển khai các hoạt động dân sự (xây dựng chùa, trường học, bệnh viện, cảng và cơ sở chế biến hải sản…) và có quân đội đồn trú. Một số đảo cũng đã được bồi lấp, cải tạo trong thời gian gần đây nhằm đáp ứng các nhu cầu trước mắt và lâu dài (và cũng được một vài học giả và nhà nghiên cứu chiến lược thế giới tán thành, thậm chí được đánh giá tích cục vì chỉ cải tạo nhỏ, không làm hại môi trường [8]).

Tuy nhiên, tháng 3/1988, Trung Quốc lại đưa quân tới xâm lược bãi đá Cô Lin, Len Ðao và Gạc Ma :

Ngày 11/3/1988, tàu HQ 604 (Lữ đoàn 125) của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ xuất phát từ Cam Ranh với 70 bộ đội công binh của Trung đoàn 83 và 22 bộ đội của Lữ đoàn 146 ra xây dựng cụm đảo Gạc Ma. Khi đang chuyển vật liệu lên đảo thì ba tàu chiến Trung Quốc áp sát, giật cờ, nã súng xâm chiếm đảo Gạc Ma trái phép. Sau đó, tàu Trung Quốc tiếp tục tấn công tàu HQ 605 đang bảo vệ và xây dựng đảo Len Ðao và tàu HQ 505 canh giữ Cô Lin. Trận xung đột đã làm hai tàu của Việt Nam bị chìm, một tàu hỏng, 64 sĩ quan và chiến sĩ hy sinh, 9 người bị phía Trung Quốc bắt làm tù binh. Trung Quốc còn chặn không cho tàu mang cờ Chữ Thập Ðỏ ra cứu hộ. Trung Quốc bị hư hại tàu chiến, thương vong 24 thủy binh. Kể từ đó Trung Quốc chiếm đóng Gạc Ma.

Năm 2012, phía Trung Quốc công bố video về những diễn biến đã diễn ra ngày 14/3/1988 tại Gạc Ma. Cả thế giới phẫn nộ. Có thể nói, quá trình chiếm hữu, xác lập chủ quyền, xây dựng bảo vệ và chiến đấu hy sinh ở Gạc Ma là câu chuyện bi thương nhất trong lịch sử bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam tính đến nay.

Xin được nói kỹ hơn về Gạc Ma (Johnson South Reef) :

Đá Gạc Ma

Gạc Ma (Johnson South Reef) là rặng san hô nằm trong nhóm đảo Sinh Tồn (Union Banks), thuộc Quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) của Việt Nam. Gạc Ma, gọi chính xác là "Ðá Gạc Ma", nằm ở tọa độ 9°42’độ vĩ Bắc – 114°17’độ kinh Ðông, thuộc nhóm đảo Sinh Tồn của Quần đảo Trường Sa – là một quần đảo có hơn 100 thực thể gồm đảo san hô, cồn cát, rạn san hô (gồm rạn san hô thường và các đảo san hô vòng), bãi cạn và bãi ngầm ở Biển Ðông.

Nhóm đảo Sinh Tồn là một tập hợp các thực thể địa lí nằm ở phía nam cụm Nam Yết, mà khái niệm hàng hải và quân sự quốc tế gọi là Union Banks/Union Reefs – Bãi san hô Liên Minh hay cụm rặng Liên Minh, có tài liệu còn gọi là Bãi san hô Hội Ngộ ; tiếng Trung : 九章群礁 (Cửu Chương quần tiêu). Nhóm đảo này (Union Reefs) nằm giữa Quần đảo Trường Sa, chỉ có một đảo san hô là đảo Sinh Tồn (Sin Cowe Island, tiếng Trung : 景宏島 ; Cảnh Hoành đảo), một cồn cát là đảo Sinh Tồn Ðông, còn lại là rất nhiều rặng đá như đá Cô Lin, đá Gạc Ma, đá Len Ðao… Trong số này, đá Ba Ðầu là rặng đá lớn nhất.

Nhóm Sinh Tồn lần đầu tiên được khảo sát bởi tàu HM Herald của Nữ Hoàng Anh vào tháng 4 và tháng 5/1931. Tất cả các tên riêng được đặt theo tên của các cán bộ khảo sát trên tàu Herald (Thuyền trưởng N.A.C. Hardy) hoặc theo lịch Kitô giáo. Cuộc khảo sát của Herald về Union Banks/Union Reefs chưa từng được các nhà nghiên cứu thủy vǎn của hải quân Hoàng gia Anh công bố [9]. Cũng chính con tàu này vào năm 1931 đã khảo sát ở bãi Nguyệt Thiềm thuộc Quần đảo Hoàng Sa. Sau đó, khi bị Chính phủ Pháp phản đối, Bộ Hải quân Hoàng gia Anh đã nhận được công văn từ phía Pháp, đưa ra chứng cứ là nhà cầm quyền Trung Hoa đã có văn bản nói rõ là họ không có chủ quyền ở Hoàng Sa [10].

Gạc Ma là thực thể cuối phía tây nam của Nhóm Sinh Tồn và rất gần đá Cô Lin (Collins Reef, khoảng 3 km về phía đông nam). Ðá Gạc Ma, trong các tài liệu tiếng Anh hàng hải và quân sự gọi là Johnson Reef. Gần đây, nhiều tài liệu gọi là Johnson South Reef khi đá Cô Lin được gọi là Johnson North Reef mà không gọi là Collins Reef. Ngoài Việt Nam, Gạc Ma còn bị Ðài Loan, Philippines và Trung Quốc tự coi là thuộc chủ quyền của mình. Trong tiếng Philippines, Gạc Ma được gọi là Mabini ; tiếng Trung : 赤瓜礁, Chingua Jiao, Xích Qua tiêu.

Về cấu trúc địa lý tự nhiên của Gạc Ma, nhiều tài liệu nghiên cứu chuyên sâu những năm gần đây thường sử dựng tài liệu của David Hancox và Victor Prescott với công trình chung mà hai ông đã đăng trên tờ Maritime Briefing Vol. 1 số 6 năm 1995 "Mô tả địa lý về Quần đảo Trường Sa và hồ sơ khảo sát thủy văn của những đảo này" [11]. Sở dĩ tài liệu này được chú ý khai thác, trước hết bởi tính khách quan của các cuộc khảo sát. David Hancox là nhà khoa học thủy văn Australia, là một thành viên của công ty tư vấn quốc tế về cứu hộ có trụ sở tại Singapore. Ông đã làm việc trong hầu hết các ngành của công nghiệp cứu hộ trên biển và có mặt thường xuyên ở Biển Ðông. Victor Prescott là giáo sư địa lý học tại Ðại học Melbourne, một chuyên gia sâu về thềm lục địa, EEZ, Luật biển, Biển Ðông, Ranh giới quốc tế trên biển và trên đất liền… trong suốt ba mươi năm qua. Ông đã viết nhiều cuốn sách về địa lý học chính trị, trong đó có cuốn Limits of National Claims in the South China Sea (Giới hạn của yêu sách quốc gia ở Biển Ðông) xuất bản năm 1999. Một số đã được dịch sang tiếng Ả rập, tiếng Ðức và tiếng Ý. Hai ông cũng đã công bố cuốn sách viết chung về các cuộc khảo sát công khai và bí mật tại Quần đảo Trường Sa ở thế kỷ XIX Secret Hydrographic Surveys in the Spratly Islands (Những cuộc khảo sát thủy văn bí mật ở Quần đảo Trường Sa), Nhà xuất bản Coronet Books Inc, 219 trang, 12/1999 [12].

Gạc Ma chính là nơi diễn ra xung đột quân sự tháng 3/1988. Lúc đó Trung Quốc trái phép xâm lược đảo, nổ súng làm 64 chiến sĩ và sĩ quan Việt Nam hy sinh, 9 người bị bắt và Trung Quốc chiếm đảo. Kể từ đó, Trung Quốc giữ quyền kiểm soát và từ năm 2014 đến nay đang cải tạo lớn, xây dựng sân bay, cảng, hình thành căn cứ quân sự ở thực thể địa lý này, gây nguy hại đến môi trường, vi phạm an ninh hàng hải và trật tự địa chính trị khu vực và thế giới.

Với Gạc Ma, lịch sử gồm bốn nội dung lớn :

1) Quá trình khám phá của các nhà hải dương học phương Tây đối với đảo này từ đầu những năm 30 (thế kỷ XX) ;

2) Quá trình thực thi chủ quyền của Việt Nam trên đảo Gạc Ma ;

3) Trung Quốc xâm lược Gạc Ma năm 1988 ;

4) Hành vi cải tạo phi pháp của Trung Quốc làm biến dạng thực thể địa lý tự nhiên này từ năm 1988, đặc biệt từ năm 2014 đến nay.

Xin được nhắc lại, khi Trung Quốc công bố video về những diễn biến đã diễn ra ngày 14/3/1988 tại Gạc Ma với mục đích răn đe, thì video này đã làm cả thế giới phẫn nộ. Nhìn lại toàn bộ lịch sử biển đảo Việt Nam, thì Gạc Ma năm 1988 là sự kiện bi thương nhất trong quá trình chiếm hữu, xác lập và bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam từ xưa đến nay.

Chiến dịch của Trung Quốc đánh chiếm các đảo trên Quần đảo Trường Sa kéo dài đến ngày 6/4/1988 với việc Trung Quốc chiếm 6 nhóm đảo và đá ngầm gồm :

1) Gạc Ma (Johnson South Reef) ngày 14/3/1988 ;

2) Ðá Chữ Thập (Fiery Cross Reef) ngày 1/1988 ;

3) Ðá Châu Viên (Cuarteron Reef) ngày 18/2/1988 ;

4) Ðá Ga Ven (Gaven Reef) năm 1988 ;

5) Ðá Xu Bi (Subi Reef) năm 1988 ;

6) Ðá Tư Nghĩa (Huy Gơ, Hughes Reef hay Hugh Reef) ngày 28/2/1988.

Vào tháng 2/1995, Trung Quốc chiếm thêm đá Vành Khăn (Mischief Reef).

Tháng 6/2012, Trung Quốc chiếm thêm Bãi Cạn (Scarborough).

Tại cả 8 thực thể này trên Quần đảo Trường Sa, từ năm 2014 Trung Quốc đều tiến hành những cải tạo cực lớn, làm biến đổi môi trường biển, hệ sinh thái và bố trí các căn cứ quân sự làm thay đổi trật tự địa chính trị Biển Ðông, vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế. Cả thế giới lo ngại.

Nghĩa là kể từ nǎm 1974, đối với Hoàng Sa và từ năm 1988 đối với một số thực thể trên Quần đảo Trường Sa, các yếu tố cấu thành chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam trên hai quần đảo này đã bị tước mất yếu tố vật chất (Corpus). Nhưng trên thực tế, chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này vẫn không bị gián đoạn do được đảm bảo bằng yếu tố tinh thần (Animus). Nhà nước Việt Nam trên tất cả các diễn đàn chính trị và pháp lý quốc tế vẫn liên tục có những biện pháp phản đối, lên án các hành vi vi phạm của phía Trung Quốc và tái khẳng định chủ quyền của mình. Các thực thể khác ở Quần đảo Trường Sa vẫn được Việt Nam bảo vệ vững chắc trong khuôn khổ của những quy định của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS – United Nations Convention on Law of the Sea) năm 1982.

Năm 2014, Cơ quan Nghiên cứu Chiến lược Mỹ (CNA) đã công bố một báo cáo đặc biệt so sánh yêu sách của Việt Nam và của Trung Quốc về chủ quyền trên hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Ðông. Báo cáo có tiêu đề "Trung Quốc và Việt Nam : Phân tích các yêu sách đối lập về chủ quyền ở Biển Ðông". Tác giả của Báo cáo là Raul (Pete) Pedrozo, Giáo sư Luật quốc tế Học viện Chiến tranh Hải quân Mỹ (US. Naval War College), Trợ lý đặc biệt của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ về chính sách. Người viết Lời tựa cho Báo cáo là Chuẩn Ðô đốc Michael McDevitt, Chuyên gia cấp cao về các vấn đề an ninh của Hoa Kỳ ở Ðông Á, người sáng lập Cơ quan Nghiên cứu Chiến lược của CNA. Trong Lời tựa, Báo cáo nhấn mạnh :

"Chủ quyền danh nghĩa của Việt Nam (Vietnam’s Title) đối với Hoàng Sa hoàn toàn có cơ sở cả về lịch sử và pháp lý. Từ đầu thế kỷ XVIII, Việt Nam đã thể hiện rõ mục tiêu trong việc bảo vệ chủ quyền đối với các đảo thông qua việc thành lập tổ chức được chính phủ bảo trợ để khai thác và quản lý tài nguyên trên quần đảo. Mục tiêu này được khẳng định bằng việc chiếm hữu (Annexation) các đảo và bằng các hành vi có ý nghĩa biểu tượng cho chủ quyền vào đầu thế kỷ XIX, sau đó là sự kiểm soát hòa bình, hiệu quả và lâu dài đối với các đảo bởi các vương triều Nguyễn kế tiếp nhau cho đến thời Pháp thuộc. Pháp tiếp tục quản lý có hiệu quả các đảo thay mặt cho Việt Nam chiếm hữu thực tế (Physically took Possession) và chiếm đóng (Occupied) Hoàng Sa vào những năm 30 của thế kỷ XX. Sau đó, Pháp tiếp tục khẳng định chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa cho đến khi rời khỏi Ðông Dương nǎm 1956. Sau sự ra đi của người Pháp, miền Nam Việt Nam (và sau đó là Việt Nam thống nhất) thực sự cai trị các đảo và không bao giờ ngừng bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo, ngay cả sau khi Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp một phần quần đảo vào năm 1956 và toàn bộ quần đảo vào năm 1974.

Mặt khác, yêu sách đầu tiên về chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa đã không xảy ra trước năm 1909, sau hai thế kỷ Việt Nam đã thiết lập một cách hợp pháp và hiệu quả chủ quyền danh nghĩa của mình đối với các đảo. Hơn nữa, Trung Quốc chiếm đóng trái phép đảo Phú Lâm (Woody) vào nǎm 1956 và chiếm đóng toàn bộ quần đảo vào nǎm 1974, rõ ràng là vi phạm Ðiều 2 (4) của Hiến chương Liên Hiệp Quốc và do đó không có chủ quyền danh nghĩa pháp lý minh bạch (Clear Legal Title) đối với Hoàng Sa.

Ðối với Trường Sa, Pháp thôn tính các hòn đảo vào những nǎm 30 của thế kỷ XX lúc còn là lãnh thổ vô chủ (Terra nyullius), vào thời điểm đó, chiếm đóng bằng vũ lục là một phương thức hợp lệ để giành chủ quyền về lãnh thổ. Vương quốc Anh, nước có kiểm soát một số đảo ở Trường Sa vào những năm 1800s, đã từ bỏ yêu sách của mình sau khi Pháp chiếm hữu và chiếm đóng có hiệu quả, do đó, chủ quyền danh nghĩa của Pháp đối với Trường Sa đã được thiết lập một cách hợp pháp và hợp lý. Chủ quyền danh nghĩa của Pháp đối với quần đảo này đã được trao lại cho Nam Việt Nam vào những năm 1950 và chính phủ Nam Việt Nam (và sau đó là một Việt Nam thống nhất) kiểm soát một cách hiệu quả và hòa bình các đảo cho đến khi Trung Hoa Dân Quốc (RoC) xâm chiếm trái phép đảo Ba Bình (Itu Aba) vào năm 1956 và Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) chiếm đóng trái phép một số đảo nhỏ thuộc quần đảo này vào năm 1988.

Sự chiếm đóng của Trung Hoa Dân Quốc trên đảo Ba Bình vào năm 1946 và 1956, và cuộc xâm lăng của Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa đối với Trường Sa vào năm 1988, vi phạm Điều 2 (4) Hiến chương Liên Hiệp Quốc và do vậy, không thể có chủ quyền danh nghĩa pháp lý minh bạch đối với Trường Sa, cho Đài Loan hoặc cho Trung Quốc (The ROC’s occupation of Itu Aba Island in 1946 and 1956, and the PRC’s invasion of the Spratlys in 1988, violate Article 2(4) of the UN Charter and cannot confer clear title to the Spratlys to either Taiwan or China).

Việc Trung Quốc thách thức chủ quyền của Việt Nam đối với Trường Sa từ năm 1951 đến 1988, các quyền đã được Pháp chuyển giao hợp pháp cho Việt Nam, tự nó đã không thể tạo ra một chủ quyền danh nghĩa minh bạch cho Trung Quốc" (The fact that China may have challenged Vietnamese sovereignty over the Spratlys between 1951 and 1988, rights that were legally ceded by France to Vietnam, does not in and of itself create a clear title for China") [13].

Trích dẫn quan điểm của các học giả nước ngoài nổi tiếng trong báo cáo trên, chúng tôi muốn tránh thái độ chủ quan khi nhìn nhận vấn đề. Có không ít các học giả quốc tế đã từng khẳng định, điều quan trọng đối với chủ quyền của Việt Nam trên hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là ở chỗ, theo luật quốc tế, từ đầu thế kỷ XX việc dùng vũ lục để chinh phục một lãnh thổ đã bị lên án và không được chấp nhận chủ quyền. Nghị quyết của Ðại hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 24/10/1970 ghi rõ : "Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm đóng quân sự, kết quả của việc sử dựng vũ lục trái với các điều khoản của Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là một đối tượng thự đắc bởi một quốc gia khác do đe dọa sử dựng vũ lục hoặc sử dựng vũ lục. Bất kỳ sự thự đắc lãnh thổ nào bằng sự đe dọa sử dựng vũ lục hoặc sử dựng vũ lục đều là bất hợp pháp" (The territory of a State shall not be the object of military occupation resulting from the use of force in contravention of the provisions of the Charter. The territory of a State shall not be the object of acquisition by another State resulting from the threat or use of force. No territorial acquisition resulting from the threat or use of force shall be recognized as legal) [14].

(Hồ Sĩ Quý, Nghiên cứu quốc tế, 08/02/2026)

Chú giải :

[1] Bộ Ngoại giao (1988), Các Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và luật pháp quốc tế (Sách Trắng), Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, tr. 5.

[2] Báo "Chính Luận" (Sài Gòn), số 2982, ngày 31/1/1974.

[3] Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1979, tr. 127-128.

[4] Bộ Ngoại giao (1988), Các Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và luật pháp quốc tế, (Sách Trắng), Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, tr. 6.

[5] Xem: 1) BBC (2018), Hoàng Sa 1974: Chính phú Mỹ nói gì ? ; 2) BBC (2011), Thái độ của Mỹ sau trận Hoàng Sa 1974 ; 3) Schuster, Carl O. (2017), Battle for Paracel Islands with U.S. troops gone from South Vietnam, China made a move at sea in 1974, and the ripple effects are still being felt, 4/19/2017.

[6] Nguyễn Văn Hưởng (201đ), Phán xét : Các nước lón đã can thiệp vào chiến tranh Việt Nam như thế nào, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 478-479.

[7] Một số hoạt động cần thiết phải được liệt kê :

- Ngày 5/4/1975, Bộ Tư lệnh Hải quân Nhân dân Việt Nam đã triển khai kế hoạch tiếp quản Quần đảo Trường Sa.

- Từ ngày 13 đến ngày 28/4/1975, các lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tiếp quản các đảo có quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ, đồng thời triển khai lực lượng đóng giữ các đảo một số vị trí khác trong Quần đảo Trường Sa.

- Ngày 5/6/1975, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

- Ngày 2/7/1976, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VI (1976 – 1981), Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất được bầu vào ngày 25/4/1976, đã quyết định đổi tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoàn toàn có nghĩa vụ, quyền hạn tiếp tục quản lý và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa.

- Ngày 12/5/1977, Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra tuyên bố về các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, trong đó khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

- Ngày 28/9/1979, Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố Sách Trắng : "Chủ quyền Việt Nam đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa", trong đó đã giới thiệu 19 tài liệu liên quan đến chủ quyền Việt Nam đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

- Tháng 12/1981, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Sách Trắng "Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam".

- Ngày 12/11/1982, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra tuyên bố về hệ thống đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải ven bờ lục địa Việt Nam.

- Tháng 12/1982, huyện Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Quảng Nam – Ðà Nẵng được thành lập.

- Ngày 9/12/1982, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Quyết định số 193-HÐBT thành lập huyện Trường Sa thuộc tỉnh Ðồng Nai. Ngày 11/12/1982, Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Quyết định số 194-HÐBT thành lập huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam – Ðà Nẵng.

- Ngày 28/12/1982, Quốc hội khóa VII nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra nghị quyết sáp nhập huyện Trường Sa vào tỉnh Phú Khánh.

- Từ ngày 23/1/1997 theo Nghị định số 07/1997/NÐ-CP của Chính phủ, huyện đảo Hoàng Sa thuộc Ðà Nẵng; theo đó, huyện Hoàng Sa có diện tích : 305km2, chiếm 23,76% diện tích thành phố Ðà Nẵng, với địa giới bao gồm một quần đảo có tên gọi là Quần đảo Hoàng Sa với các đảo san hô nằm cách đất liền khoảng 170 hải lý (315km). Huyện bao gồm các đảo: đảo Hoàng Sa, đảo Ðá Bắc, đảo Hữu Nhật, đảo Ðá Lồi, đảo Bạch Quy, đảo Tri Tôn, đảo Cây, đảo Bắc, đảo Giữa, đảo Nam, đảo Phú Lâm, đảo Linh Côn, đảo Quang Hòa, cồn Bông Bay, cồn Quan Sát, cồn cát Tây, đá Chim Yến, đá Tháp.

- Ngày 11/4/2007, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Nghị định số đ5-NÐ/CP quyết định thành lập 3 đơn vị hành chính trực thuộc huyện Trường Sa : 1) Thị trấn Trường Sa, gồm đảo Trường Sa Lớn và phụ cận ; 2) Xã Song Tử Tây, gồm đảo Song Tử Tây và phụ cận ; 3) Xã Sinh Tồn, gồm đảo Sinh Tồn và phụ cận.

- Nǎm 1988, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã huy động lực lượng vũ trang đánh chiếm các bãi cạn phía tây bắc Quần đảo Trường Sa. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông báo cho Liên Hiệp Quốc và gửi các công hàm tố cáo và phản đối Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã đánh chiếm các bãi cạn thuộc Quần đảo Trường Sa : Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Tư Nghĩa, Gạc Ma, Xu Bi.

- Tháng 4/1988, Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố Sách Trắng "Các Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và luật pháp quốc tế".

- Ngày 1/7/1989, tỉnh Phú Khánh được tách làm hai tỉnh : Phú Yên và Khánh Hòa, huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa.

- Ngày 23/6/1994, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị quyết phê chuẩn Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982.

- Ngày 1/1/1997, Ðà Nẵng tách khỏi tỉnh Quảng Nam – Ðà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, huyện đảo Hoàng Sa trực thuộc thành phố Ðà Nẵng.

- Ngày 25/4/2009, thành phố Ðà Nẵng công bố quyết định bổ nhiệm ông Ðặng Công Ngữ giữ chức Chủ tịch UBND huyện Hoàng

- Ngày 9/2/2007, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Ðảng (khóa X) ra Nghị quyết số 09-NQ/TW công bố "Chiến lược Biển Việt Nam".

- Ngày 21/6/2012, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật số : 18/2012/ QH13 "Luật Biển Việt Nam".

- Ngày 25/đ/2015, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật số : 82/2015/ QH13 "Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo Việt Nam".

- Ngày 6/2/2020, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 203/QÐ-TTg về việc "Thành lập Ủy ban chỉ đạo quốc gia về thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến nǎm 2030, tầm nhìn đến năm 2045".

- Ngày 26/6/2020, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 89đ/QÐ-TTg về "Chương trình tǎng cường nǎng lục và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ quản lý tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đến năm 2030".

- Ngày 24/11/2021, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 31/CT-TTg về "Ðổi mới và tǎng cường tổ chức thực hiện chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030".

- Ngày 16/6/2022, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 729/QÐ-TTg về "Chương trình truyền thông về biển và đại dương đến năm 2030".

- Ngày 25/11/2015, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật số : 95/2015/ QH13 "Bộ luật Hàng hải Việt Nam".

- Ngày 21/11/2017, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật số : 18/2017/QH14 "Luật Thủy sản".

- Ngày 22/10/2018, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa XII ra Nghị quyết số 3đ-NQ/TW về "Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến nǎm 2030, tầm nhìn đến năm 2045".

- Ngày 6/2/2020, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 203/QÐ-TTg về việc "Thành lập Ủy ban chỉ đạo quốc gia về thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến nǎm 2030, tầm nhìn đến năm 2045".

- Ngày 26/6/2020, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 89đ/QÐ-TTg về "Chương trình tǎng cường nǎng lục và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ quản lý tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đến năm 2030".

- Ngày 24/11/2021, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 31/CT-TTg về "Ðổi mới và tǎng cường tổ chức thực hiện chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030".

- Ngày 16/6/2022, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 729/QÐ-TTg về "Chương trình truyền thông về biển và đại dương đến năm 2030".

[8] Theo thông tin của Tổ chức "Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á" (AMTI – Asia Maritime Transparency Initiative, một tổ chức chuyên nghiên cứu chiến lược và thực trạng biển Châu Á, thuộc CSIS, Mỹ), thì đến nay (2024), Việt Nam đã chiếm giữ từ 49 đến 51 vị trí đồn trú trải rộng trên 27 thực thể ở Biển Ðông (hiện có hai dự án đang được xây dựng trên bãi đá Cornwallis South Reef). Các cơ sở đó được xây dựng trên 21 bãi đá và rạn san hô ở Quần đảo Trường Sa, cùng với 14 giàn khoan biệt lập được gọi là "Trạm dịch vụ kinh tế, khoa học và công nghệ" (hay DK), tại 6 vị trí (underwater banks) biển phía Ðông Nam mà Việt Nam không xem là có tranh chấp (trong khi Trung Quốc và Ðài Loan thì xem là một phần của chuỗi đảo tranh chấp). Xem : Amti (2014), Vietnam island tracker. Cũng mục này, trang tiếng Việt của Amti thì viết rằng : "Việt Nam đã tiến hành cải tạo tại 10 đá ngầm và đảo nhỏ mà Việt Nam giữ quyền kiểm soát trước chiến dịch xây dựng đảo của Trung Quốc. Tổng cộng, Việt Nam đã cải tạo hơn 120 mẫu đất mới tại những thực thể này. Ngoài việc chỉ thực hiện chưa đến 4% so với quy mô hoạt động cải tạo của Trung Quốc, các phương pháp mà Việt Nam sử dựng ít mang tính hủy hoại hơn nhiều" (Xem : 1) Amti (2024), Việt Nam island tracker ; 2) Amti (2023), Vietnam ramps up spratly island dredging.

[9] Xem : Hancox, David and Victor Prescott (1995), A Geographical Description of the Spratly Islands and an Account of Hydrographic Surveys Amongst Those Islands, "Maritimes Briefing", ISBN 1-897643-18-7 1995. Volume 1, Number 6.

[10] Xem: Công văn mật Pháp – Anh năm 1937 khẳng định, Trung Quốc vào năm 1899 đã thừa nhận Hoàng Sa không phải là của Trung Quốc.

[11] Xem : Hancox, David and Victor Prescott (1995), A Geographical Description of the…, Sđd.

[12] Xem : Hancox, David and Victor Prescott (1999), Secret Hydrographic Surveys in the Spratly Islands, Nhà xuất bản Coronet Books Inc, 219 cc.

[13] Pedrozo, Raul (Pete) (2014). A CNA Occasional Paper China versus Vietnam : An Analysis of the Competing Claims in the South China Sea. 2014.

[14] UN (1970), Declaration on Principles of International Law Concerning Friendly Relations and Cooperation among States in accordance with the Charter of the United Nations, G.A. res. 2đ25, Annex, 25 UN GAOR, Supp. (No. 28), U.N. Doc. A/5217 at 121 (1970).

*****************************
Kết luận

1. Trong lịch sử Biển Đông, trước năm 1838, các vương triều phong kiến Việt Nam và cả các nhà thám hiểm phương Tây đều chỉ biết ngoài khơi Biển Đông có một vùng quần đảo nửa chìm nửa nổi mênh mông trải dài từ bắc xuống nam mà Việt Nam gọi là Vạn Lý Trường Sa, bao gồm cả Quần đảo Hoàng Sa đã được biết đến và dựng bia chủ quyền năm 1816.

Mãi đến những năm 30 của thế kỷ XIX, Vua Minh Mạng với sự tham khảo kiến thức hàng hải phương Tây mới nhận ra diện mạo địa lý của Quần đảo Trường Sa.

Đại Nam nhất thống toàn đồ năm 1838 là bản đồ hành chính đầu tiên của triều Nguyễn và của Việt Nam (cũng là của thế giới) thể hiện rõ hiểu biết tường tận về hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bản đồ này có tọa độ địa lý mô phỏng thực địa, thể hiện rõ hai địa danh "Hoàng Sa" và "Vạn Lý Trường Sa". Về mặt pháp lý, việc công bố bản đồ này, đã khẳng định rõ lập trường của nhà Nguyễn về chủ quyền biển đảo Việt Nam.

Cùng với các căn cứ pháp lý và lịch sử khác, bản đồ 1838 cũng là một cơ sở pháp lý vững chắc để người Pháp kế thừa và bảo vệ chủ quyền của nước mà Pháp có nghĩa vụ bảo hộ, đặc biệt từ sau khi ký Hiệp ước Patenôtre (Hòa ước Giáp Thân) với triều đình Huế năm 1884.

2. Giai đoạn Việt Nam thuộc Pháp – về mặt danh nghĩa là từ năm 1858 đến năm 1945, nhưng thực tế, trước đó hàng thế kỷ và sau đó hàng chục năm, người Pháp vẫn có ảnh hưởng rất lớn đối với lịch sử Việt Nam và đối với chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa. Năm 1950, Chính phủ Pháp mới trao lại toàn quyền quản lý hai quần đảo này cho Việt Nam [1].

Mặc dù Pháp đã công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là quốc gia tự do (État Libre) trong khối Liên hiệp Pháp theo Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/1946 [2], nhưng ngày 8/3/1949 Chính phủ Pháp lại ký Hiệp ước Élysee, thành lập chính quyền "Quốc gia Việt Nam" với tư cách là "quốc gia độc lập" (État Indépendance) cũng thuộc khối Liên hiệp Pháp; Bảo Đại là Quốc trưởng [3]. Để chuẩn bị cho việc từ bỏ vai trò cai trị ở Đông Dương, Pháp thu xếp chuyển giao quyền quản lý hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường sa cho chính quyền Bảo Đại.

Ngày 14/10/1950, Pháp chính thức chuyển giao cho Chính phủ "Quốc gia Việt Nam" quyền quản lý toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chấm dứt chế độ bảo hộ của nước Pháp đối với hai quần đảo này. Tướng Phan Văn Giáo, Thủ hiến Trung phần Việt Nam lúc bấy giờ đã trực tiếp có mặt tại Hoàng Sa chủ tọa việc tiếp nhận. Cuộc chuyển giao chủ quyền hai quần đảo được mô tả là rất trang trọng, đúng nghi thức của việc chuyển giao giữa hai quốc gia và quan trọng hơn, đúng các chuẩn mực của luật pháp quốc tế.

Sự kiện này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các thế hệ người Việt kế tiếp. Bởi từ đây, người Việt Nam chính thức quản lý toàn bộ chủ quyền của Việt Nam đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, kế tục truyền thống mà các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn đã khởi lập từ xưa.

3. Trong giai đoạn Việt Nam thuộc Pháp, Chính phủ Pháp và các vương triều phong kiến An Nam đã thực thi nhiều hoạt động kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, pháp lý… rất thiết thực để củng cố chủ quyền tại Hoàng Sa và chiếm hữu thực tế, tuyên bố chủ quyền, phân vùng các cụm đảo và thiết lập chế độ đồn trú tại một số đảo ở Trường Sa.

Từ năm 1930 đến năm 1933, chính quyền Pháp thuộc địa đã hoàn tất việc chiếm lĩnh và tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ Trường Sa, như ngày nay thế giới được biết [4].

Những hoạt động này đã được chính quyền Pháp chính thức ra thông báo quốc tế ngày 19/7/1933, (đăng trên Công báo nước Cộng hòa Pháp ngày 26/7/1933) tuyên bố về chủ quyền ở Trường Sa: "Chủ quyền các đảo nói trên và các đảo phụ thuộc từng đảo này, từ nay trở đi thuộc về nước Pháp" (Les îles et îlost susindiqués relèvent désormais de la souveraiineté française) [5]. Kèm theo danh sách liệt kê tên, tọa độ các cụm đảo, phân loại toàn bộ Quần đảo Trường Sa thành 6 cụm đảo cùng với thời điểm chiếm lĩnh và tuyên bố chủ quyền: Trường Sa Lớn – ngày 13/4/1930; các đảo An Bang, Ba Bình, Nhóm Song Tử gồm Song Tử Đông và Song Tử Tây, Loại Ta và Thị Tứ – được chiếm lĩnh và tuyên bố chủ quyền từ ngày 7/4/1933 đến ngày 12/4/1933.

Đây là sự kiện có ý nghĩa lớn đối với chủ quyền Trường Sa trong công pháp quốc tế.

Nghĩa là, lần đầu tiên trong lịch sử Biển Đông, Quần đảo Trường Sa được chiếm hữu chính thức theo nghi thức quốc tế, được tuyên bố về mặt pháp lý và ngoại giao với các bên có liên quan và với thế giới. Trước đó, người Anh cũng đã từng nghiên cứu ở đây, người Trung Quốc, người Nhật, người Philippines… đôi khi cũng đã từng đánh cá, buôn bán, trú bão… Nhưng trước năm 1930 và 1933 chưa có bất cứ quốc gia nào thực hiện hành vi chiếm hữu, đặt chủ quyền theo nghi thức quốc tế, như nước Pháp đã thực hiện. Tài liệu giải mật của CIA công bố năm 2012 cũng ghi nhận sự kiện này [6].

4. Ngày nay, vấn đề chủ quyền trên Biển Đông đã được quan niệm và ứng xử quốc tế ít nhiều khác với những năm đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, việc người Pháp phân loại toàn bộ Trường Sa và lần lượt khẳng định chủ quyền của mình với toàn bộ các cụm đảo, đến nay vẫn là tiền đề có cơ sở khoa học quan trọng để Việt Nam phân chia các đảo ở Quần đảo Trường Sa thành 8 cụm đảo phục vụ việc quản lý, bảo vệ và khai thác tài nguyên quần đảo.

Hiện nay có 6 quốc gia/vùng lãnh thổ có yêu sách đối với Quần đảo Trường Sa, trong đó Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan có yêu sách đối với toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa và toàn bộ Quần đảo Trường Sa. Nhưng ngoài Việt Nam, không một quốc gia nào có căn cứ lịch sử và pháp lý tin cậy và có sức thuyết phục như việc phân chia toàn bộ Trường Sa thành 6 cụm đảo vào năm 1933 như Việt Nam. Hơn thế nữa, trong hồ sơ ngoại giao quốc tế và các nước có liên quan, ngay từ ngày 23/9/1930, văn bản Thông cáo ngoại giao của Toàn quyền Đông Dương đã được gửi đến, ghi rõ rằng "Từ ngày 13/4/1930 nước Pháp đã chính thức đặt chủ quyền của An Nam đối với Quần đảo Trường Sa (An Nam’s sovereignty over Spratlys islands) dưới sự bảo hộ của Pháp".

5. Cũng không nên quên rằng, khi nói Việt Nam có yêu sách đối với toàn bộ Hoàng Sa và Trường Sa, thì trên thực tế gồm hai nhóm các yêu sách đã gửi Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế : 1) Yêu sách về chủ quyền lãnh thổ đối với Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và 2) Yêu sách biển đối với các vùng biển và thềm lục địa tạo ra từ đất liền Việt Nam và các đảo ở hai quần đảo này (Hồ sơ của Việt Nam về Ranh giới thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý ở khu vực giữa Biển Đông đệ trình Ủy ban Ranh giới thềm lục địa Liên hợp quốc (CLCS) ngày 17/7/2024, là thuộc loại yêu sách này). Các chính khách, các nhà ngoại giao, các chuyên gia Việt Nam và quốc tế hiểu rất rõ, đối với yêu sách về chủ quyền thì luật quốc tế về thụ đắc lãnh thổ (Territorial Acquisition) là căn cứ pháp lý. Còn đối với yêu sách về biển thì Luật Biển quốc tế, trong đó có UNCLOS năm 1982 là căn cứ pháp lý.

6. Trong số các hoạt động bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa thời Pháp thuộc, công lao của Tuần báo L’Eveil Économique de l’Indochine và chủ bút Henri Cucheroussset là điều không được phép quên lãng. Chính là nhờ tiếng nói của tờ báo này mà thái độ của Phủ Toàn quyền Đông Dương ở Hà Nội và Chính phủ Pháp ở Paris từ những năm 20 thế kỷ XX đã trở nên tích cực hơn đối với vấn đề chủ quyền biển đảo Việt Nam.

Với Trường Sa, năm 1922 Viện Hải dương học Nha Trang được thành lập, cũng là một sự kiện có ý nghĩa. Việc nghiên cứu diện mạo địa chất, chế độ gió mùa, các điều kiện hải dương học… của các nhà khoa học Pháp cùng một số công chức người Việt đã thúc đẩy chính quyền thuộc địa Pháp củng cố chủ quyền ở Hoàng Sa và chiếm lĩnh thực tế, phân vùng và tuyên bố chủ quyền chi tiết trên từng cụm đảo ở Trường Sa. Việc xác định chủ quyền của Việt Nam ở Trường Sa trước công pháp quốc tế được đẩy mạnh từ giữa những năm 20 thế kỷ XX.

7. Thái độ của Nhật Bản về Hoàng Sa, Trường Sa đầu thế kỷ XX chủ yếu chỉ là những tham vọng về mặt kinh tế ở các nhà buôn người Nhật. Đến năm 1938, khi đã đi với phe Phát xít, Nhật Bản mới bất chấp sự phản đối của Pháp, chiếm các đảo nằm ngoài khơi Đông Dương làm bàn đạp chiếm đóng đảo và lãnh thổ các nước ở Châu Á. Hoàng Sa và Trường Sa trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai, bị Nhật Bản tuyên bố là lãnh thổ của Nhật Bản, nhưng đều bị Pháp phản đối về phương diện ngoại giao và pháp lý. Sau khi thua trận, ngày 26/8/1945, quân đội quân phiệt Nhật đã rút khỏi Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong hoàn cảnh lịch sử phức tạp thời hậu chiến, Pháp đưa quân quay trở lại Hoàng Sa và Trường Sa.

8. Còn với Trung Quốc, suốt chiều dài lịch sử trước năm 1909, Trung Quốc đã nhiều lần thừa nhận chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa. Ý đồ chiếm hữu phi pháp của Trung Quốc chỉ xuất hiện từ năm 1909 (khi Lý Chuẩn, một đô đốc của Lưỡng Quảng lý khai, đổ bộ không quá 24 giờ lên đảo Phú Lâm thuộc Quần đảo Hoàng Sa) và bắt đầu về phương diện ngoại giao từ năm 1921 (khi thống đốc dân sự tỉnh Quảng Đông ký công lệnh coi Hoàng Sa là thuộc Nhai huyện, Hải Nam). Mỗi lần Trung Quốc hoặc Nhật Bản có ý định thực hiện những tham vọng ở Biển Đông, chính quyền Pháp và các vương triều phong kiến Việt Nam đều tỏ thái độ đủ kiên quyết và có những công cụ pháp lý và chính trị xử lý các tình huống hiệu quả.

Lần đầu tiên Trung Quốc thực sự xâm chiếm Trường Sa là vào tháng 1/1946 (trên đảo Ba Bình) và Hoàng Sa là vào ngày 26/6/1946 (trên đảo Phú Lâm), lấy lý do là để giải giáp quân đội Nhật căn cứ vào Tuyên bố của Hội nghị Cairo và Potsdam. Thế lực của Pháp ở Đông Dương lúc đó đã không còn như trước.

Nhưng cũng đầu năm 1946, Pháp đã đặt bia chủ quyền ở Ba Bình (Trường Sa) và tháng 6/1946, đã khôi phục quân đồn trú tại nhóm đảo An Vĩnh (Hoàng Sa). Ngày 17/1/1947, tức là mười ngày sau khi Trung Quốc (lúc bấy giờ là Trung Hoa Dân Quốc) tuyên bố đã chiếm đóng toàn bộ Hoàng Sa (nhưng thực ra mới chỉ chiếm được đảo Phú Lâm), Cao ủy D’Argenlieu đã cử pháo hạm Le Tonkinois cùng với một số ca nô đổ bộ lên đảo Hoàng Sa (Pattle) thuộc cụm Nguyệt Thiềm, phía tây quần đảo, cách Phú Lâm chừng hơn 45 hải lý. Tại đây, Pháp khôi phục lại chế độ đồn trú, hoạt động khí tượng thủy văn, hàng hải và nghiên cứu khoa học… cho mãi đến khi Trung Hoa đại lục cưỡng chiếm bằng quân sự gây đổ máu vào tháng 1/1974.

Tháng 4/1950, sau khi thua trận chạy ra Đài Loan, quân đội Tưởng Giới Thạch rút khỏi đảo Phú Lâm và đảo Ba Bình. Với Pháp lúc đó, mặc dù khả năng kết thúc chế độ thuộc địa đã là một thực tế rất cận kề, nhưng các trạm đồn trú của Pháp vẫn tiếp tục duy trì ở Hoàng Sa được mô tả là khá chính quy.

Bảy năm sau, Trung Quốc đại lục (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) mới bí mật chiếm đóng đảo Phú Lâm vào đêm 20 rạng ngày 21/2/1956. Và, mãi tới năm 1974 Trung Quốc mới thực sự chiếm được Hoàng Sa trong trận hải chiến làm 64 sĩ quan và chiến sĩ quân đội Việt Nam Cộng hòa hy sinh; năm 1988 mới lần đầu tiên đặt chân được đến Trường Sa bằng cuộc chiến xâm lược lên đảo Gạc Ma làm 74 sĩ quan và chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam hy sinh.

9. Không phải ngay từ đầu và cũng không phải mọi quan chức Pháp có trọng trách ở Đông Dương đều hiểu rõ lịch sử, ý nghĩa to lớn và có thái độ hợp lý với chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa (như Báo Eveil Economique ngày 30/12/1928 đã phản ánh). Nhưng kể từ khi Vương triều Gia Long đặt bia chủ quyền tại Hoàng Sa vào năm 1816 đến tận khi kết thúc chế độ thực dân ở Việt Nam, Chính quyền Pháp tại Hà Nội đã luôn có ý thức rõ rệt về chủ quyền biển đảo Việt Nam, trước những tham vọng lớn hoặc nhỏ của người Trung Quốc và người Nhật Bản và phần nào đó là của người Anh.

Trên Quần đảo Hoàng Sa, trong suốt thời kỳ thuộc Pháp, các hoạt động thể hiện chủ quyền được thực thi liên tục và rất có hiệu quả. Đơn vị hành chính của từng địa phương (cụm đảo Nguyệt Thiềm, cụm đảo An Vĩnh) thuộc quần đảo được thiết lập và điều chỉnh cho phù hợp với tình hình. Vị trí hành chính của Quần đảo Hoàng Sa trong khu vực Trung Kỳ được xác định từ năm 1933 là đơn vị hành chính thuộc tỉnh Bà Rịa để quản lý. Chế độ công chức, quân đội đồn trú cùng với các chế độ tài chính, lương bổng, thưởng phạt… được thực thi ở tầm quốc gia. Chế độ thuế, khai thác tài nguyên, quan hệ với ngư dân các nước… được duy trì và kiểm soát. Các trạm khí tượng thiên văn và các trạm hải đăng… được xây dựng với trình độ khu vực và quốc tế trên đảo Boisée (Phú Lâm) và trên đảo Pattle (Hoàng Sa). Tại Hoàng Sa, chùa do Vua Minh Mạng xây năm 1835 được tu bổ và tôn tạo; trường học, khu vực dân cư, khu công chức… cũng được chú ý xây dựng, mặc dù cư dân không đông.

Bia chủ quyền của Cộng hòa Pháp và Vương quốc An Nam tại Hoàng Sa được đặt lần thứ hai vào năm 1938.

Tại Hoàng Sa, các vụ tranh chấp lớn và nhỏ về những vấn đề cụ thể và cả về vấn đề "Quốc tịch" của Hoàng Sa (chữ dùng của các quan chức Pháp tại Hà Nội thời đó) với Trung Quốc đều được xử lý thỏa đáng. Hai lần chính quyền Pháp đã yêu cầu Trung Quốc cùng đệ đơn ra trọng tài quốc tế. Nhưng Trung Quốc luôn từ chối. Hoàng Sa chỉ bị mất về tay Nhật Bản trong những năm Chiến tranh thế giới lần thứ hai (từ năm 1938 đến năm 1946) khi bản thân nước Pháp cũng bị Phát xít Đức đô hộ. Nhưng ngay cả trong khi quyền lực của Pháp ở Việt Nam bị lung lay những năm 1945 – 1950, chính quyền Pháp vẫn chú ý tích cực đến vấn đề chủ quyền. Tình huống đảo Phú Lâm bị xâm hại bởi Trung Hoa Dân Quốc và sự đấu tranh quyết liệt của chính quyền Pháp những năm 1946 – 1947 với sự có mặt của pháo hạm Le Tonkinois tại Hoàng Sa, trong lúc đang có chiến tranh tại Bắc Việt Nam, là thể hiện rõ nhất thái độ và lập trường của Pháp.

Về mặt pháp lý chưa bao giờ người Pháp từ bỏ chủ quyền ở Hoàng Sa.

10. Ngày 7/9/1951, tại Hội nghị San Francisco, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu của Chính phủ "Quốc gia Việt Nam" đã long trọng tuyên bố trước thế giới, "chủ quyền đã có từ lâu đời của Việt Nam trên hai Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa" và nói rõ đây là "cơ hội để dập tắt các mầm mống tranh chấp sau này". Kết thúc hội nghị là việc ký kết Hòa ước với Nhật ngày 8/9/1951.

Trong hòa ước này, ở Điều 2, đoạn F, ghi rõ : "Nhật Bản khước từ mọi chủ quyền và đòi hỏi đối với các Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa". 50 phái đoàn yên lặng nghe lời tuyên bố của Việt Nam, không một quốc gia nào phản đối. Tuyên bố của Việt Nam hiện vẫn được lưu giữ tại Hồ sơ ngoại giao của các quốc gia tham dự Hội nghị San Francissco năm 1951 và tại các trung tâm thông tin lớn trên thế giới. Trung Quốc đại lục sau đó mới phản ứng bằng cách bảo lưu yêu sách của họ qua tuyên bố của Bộ trưởng Ngoại giao Chu Ân Lai ngày 15/8/1951. Nhưng ở Đài Bắc, Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch, người đã đặt bút ký trong Tuyên bố Cairo năm 1943, lại không có phản ứng gì; vì Hội nghị San Francisco đã tuân thủ đúng những điều mà Hội nghị Cairo năm 1943 đã ký – Món quà hậu chiến của Trung Quốc chỉ có Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ, không thể có Hoàng Sa và Trường Sa, lãnh thổ chưa bao giờ thuộc về Trung Quốc (Khoản 8 của Tuyên bố Cairo năm 1943 được trích lại rõ ở Tuyên ngôn Potsdam. Không có dòng chữ nào nói rằng các Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa sẽ được trả cho Trung Quốc như gần đây Trung Quốc giải thích). Lúc đó, đa số các nước vẫn công nhận Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch là đại diện chính thức cho Trung Quốc.

Nghĩa là, trên thực tế, cộng đồng thế giới đã biểu thị sự đồng thuận với lập trường của Việt Nam – một lần nữa Hoàng Sa, Trường Sa đã được tuyên bố thuộc chủ quyền không tranh chấp của Việt Nam.

11. Lịch sử của việc thực thi chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa thời thuộc Pháp là lịch sử của quá trình nước Pháp công nhận và chịu trách nhiệm kế thừa các triều đại phong kiến Việt Nam, thực thi và củng cố hiệu quả hơn chủ quyền của Việt Nam ở hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Theo Điều 2 (4) Hiến chương Liên hợp quốc, sự chiếm đóng trái phép của Trung Hoa Dân Quốc (từ năm 1956 trên đảo Ba Bình – Itu Aba, Quần đảo Trường Sa) và của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (từ năm 1956 trên đảo Phú Lâm – Woody, Quần đảo Hoàng Sa ; từ năm 1974 trên toàn bộ Hoàng Sa; và từ năm 1988 và 1995 đối với 7 thực thể khác thuộc Quần đảo Trường Sa), không thể làm mất đi chủ quyền danh nghĩa của Việt Nam đối với toàn bộ hai quần đảo này. Sự chiếm đóng thực tế nhưng phi pháp (Illegall Corpus Occupandi) không thể thay thế yếu tố tinh thần (Animus) trong sự thụ đắc lãnh thổ (Territorial Acquisition) để tạo thành chủ quyền danh nghĩa công pháp (Title of Legal Clear Sovereignty).

Lịch sử này là tường minh và đáp ứng đủ các tiêu chuẩn của công pháp quốc tế.

Hồ Sĩ Quý

Nguồn : Nghiên cứu quốc tế, 15/02/2026

Chú giải :

[1] Ngay từ cuối thế kỷ XVIII, Chúa Nguyễn Ánh với số phận lịch sử đặc biệt của mình, đã có quan hệ mật thiết với nhiều người Pháp, đặc biệt là với Pigneau de Béhaine (tên Việt là Bá Đa Lộc, 1741 – 1799), Jean- Baptiste Chaigneau (tên Việt là Nguyễn Văn Thắng, 1769 – 1832), anh em Jean-Marie Dayot (tên Việt là Nguyễn Văn Trí, 1759 – 1809) và Fe’lix Dayot (1761 – 1821), Philippe Vannier (tên Việt là Nguyễn Văn Chấn, 1762 – 1842), Godefroy de Forçant (tên Việt là Lê Văn Lăng, mất năm 1809) – những người đã trực tiếp giúp Nguyễn Ánh chống Tây Sơn, cũng là những người rất am hiểu hàng hải, hải quân và vai trò của việc chiếm lĩnh biển đảo đối với mỗi quốc gia. Tầm nhìn và những phán quyết sáng suốt của Nguyễn Ánh – Gia Long trong các hoạt động có liên quan đến chiếm hữu, quản lý và bảo vệ chủ quyền biển đảo chắc chắn chịu ảnh hưởng từ những người này. Xem : Thụy Khuê (2017), Vua Gia Long và người Pháp, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội (Chương 3 : Tóm tắt giai đoạn lịch sử 1777 – 1802).

[2] Điều 1. của Hiệp ước sơ bộ 6/3/1946 : Chính phủ Pháp công nhận Cộng hòa Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính phủ, Quốc hội, quân đội và ngân sách nhà nước riêng, là một phần của Liên bang Đông Dương và Liên bang Pháp, và cam kết phê chuẩn các quyết định được đưa ra bởi cuộc trưng cầu dân ý. (Un accord a été signé à Hanoï entre la France et le Viêt-Nam. (Le gouvernement français reconnaît la République du Viêt-Nam comme un État libre, ayant son gouvernement, son Parlement, son armée et ses financée, faisant partie de la Fédération Indochinoise et de l’Union française, et s’engage à entériner les décisions prises par les populations consultées par référendum).

[3] Hiệp định Pháp – Việt 8/3/1949 (Accords de l’Elysée).

[4] Xem : Chemillier – Gendreau, Monique (1998), Chủ quyền trên hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, sđd, tr. 203.

[5] Ministère des Affaires Étrangères, Journal officiel de la République Francaise, 26 Juillet 1933, page 7837, (Thư viện số Thư viện Quốc gia Pháp).

[6] CIA (2012), Sovereignty Claims in the South China Sea (Declassified and Approved For Release 2012/12/12).