Chiến tranh tác động đến não bộ trẻ em ra sao - và những hệ lụy nhiều năm sau đó (Fergal Keane)

Lưu ý nội dung : Bài viết có đề cập đến tác động của xung đột lên trẻ em ở các vùng chiến sự, cũng như mô tả các tổn thương có thể gây khó chịu cho một số độc giả.

Điều đầu tiên xảy ra là cha của Abdelrahman bị sát hại. Ngôi nhà của gia đình trúng một đòn không kích của Israel. Mẹ cậu bé, Asma al-Nashash, 29 tuổi, nhớ lại : "Họ mang ông ấy ra ngoài trong tình trạng thân thể không còn nguyên vẹn".
Sau đó, vào ngày 16/7/2024, một cuộc không kích đánh trúng ngôi trường ở Nuseirat, miền trung Gaza. Abdelrahman, khi đó 11 tuổi, bị thương nặng. Các bác sĩ buộc phải cắt bỏ một chân của em.
Tình trạng tâm lý của cậu bé bắt đầu xấu đi. "Thằng bé bắt đầu giật tóc và tự đánh mình rất mạnh", Asma kể lại.
"Nó trở nên giống như một người mắc trầm cảm, nhìn bạn bè chơi đùa, chạy nhảy… còn nó thì ngồi một mình".
Khi tôi gặp Abdelrahman tại một bệnh viện ở Jordan vào tháng 5/2025, cậu bé khép kín và dè dặt. Hàng chục trẻ em đã được sơ tán từ Gaza sang Jordan để điều trị y tế.
"Chúng cháu sẽ trở về Gaza", em nói với tôi. "Chúng cháu sẽ chết ở đó".
Abdelrahman là một trong hàng ngàn trẻ em bị sang chấn tâm lý mà tôi đã gặp trong gần bốn thập kỷ đưa tin về các cuộc xung đột. Một số gương mặt hằn sâu trong ký ức tôi.
Có những đứa bé tôi cảm thấy như vừa gặp hôm qua.
Những gương mặt ấy phản chiếu sự tàn khốc của nỗi kinh hoàng mà trẻ em phải gánh chịu trong thời đại hiện nay.
Lần đầu tiên là trên một ngọn đồi ở Eritrea vào giữa những năm 1980. Adonai Mikael khi đó là một đứa trẻ, nạn nhân của một cuộc tấn công bằng bom napalm của Ethiopia, khóc thét trong đau đớn khi gió thổi bụi bay vào các vết thương.
Những tiếng kêu gào, cùng ánh mắt hiện rõ nỗi đau tột cùng, khiến tôi phải vội vã rời khỏi chiếc lều nơi cậu bé ấy đang được điều trị.
Vài năm sau, tại Belfast, tôi còn nhớ hình ảnh một cậu bé lặng lẽ đi theo quan tài của cha – người bị IRA đánh bom sát hại. Trước đó tôi chưa từng thấy trong ánh mắt ai một sự xa cách tới vậy.
Ở Sierra Leone trong thời kỳ nội chiến, có cô bé bị một tay súng dân quân say rượu chặt đứt hai bàn tay ; ở Soweto, một đứa trẻ giúp mẹ lau vết máu của một nạn nhân bị sát hại ngay trước ngưỡng cửa nhà ; và ở Rwanda, một cậu bé suy sụp khi tôi hỏi vì sao những đứa trẻ khác gọi em là "Grenade" – một khoảnh khắc thiếu nhạy cảm mà tôi sẽ luôn ân hận.
Cậu bé đã bị thương trong một vụ nổ khiến cha mẹ em thiệt mạng.
Những con số cho thấy quy mô khủng khiếp của cuộc khủng hoảng này. Năm 2024, có tới 520 triệu trẻ em sống trong các khu vực xung đột – tức cứ năm trẻ em trên toàn thế giới thì có một em – theo phân tích của Viện Nghiên cứu Hòa bình Oslo, cơ quan đã kết hợp dữ liệu về các cuộc xung đột với số liệu dân số để đưa ra ước tính này.
Giáo sư Theresa Betancourt, tác giả cuốn Shadows into Light, viết về các cựu binh nhí, gọi đây là "thảm họa nhân đạo lớn nhất kể từ Thế chiến II".
Bà cảnh báo rằng sang chấn tâm lý để lại những tác động kéo dài rất lâu trong tương lai.
"[Nó có thể ảnh hưởng đến] cấu trúc đang hình thành của não bộ ở trẻ nhỏ, với những hệ quả suốt đời đối với khả năng học tập, hành vi, cũng như sức khỏe thể chất và tinh thần".
Nhưng khi đã có rất nhiều nghiên cứu về tác động của chiến tranh đối với tâm trí trẻ em, câu hỏi đặt ra là : điều gì có thể giúp được chúng ?
Tính thời sự của câu hỏi này chưa bao giờ rõ ràng như hiện nay, trong bối cảnh xung đột toàn cầu ảnh hưởng đến hàng triệu trẻ em : từ những đứa trẻ ở Sudan chứng kiến mẹ và chị em gái bị dân quân hãm hiếp ở el-Fasher, Darfur, vào tháng 10/2025 ; những em nhỏ bị Hamas bắt cóc khỏi Israel vào ngày 7/10/2023, nhiều em đã tận mắt thấy gia đình và hàng xóm bị thảm sát ; những đứa trẻ ở Bucha, Ukraine, có cha mẹ nằm trong số những người bị lính Nga sát hại vào tháng 2/2022 ; cho đến hàng trăm ngàn trẻ em như Abdelrahman, những đứa trẻ đã phải chịu đựng hơn hai năm chiến tranh ở Gaza.
Tôi xin chia sẻ một trải nghiệm cá nhân. Tôi từng mắc rối loạn stress sau sang chấn (Post-traumatic stress disorder – PTSD) từ khi còn là một đứa trẻ lớn lên trong một gia đình tan vỡ, và sau này khi trưởng thành và chứng kiến chiến tranh và nạn diệt chủng.
Dù không trải qua chiến tranh khi còn nhỏ, tôi hiểu quá rõ các triệu chứng : lo âu cực độ, trạng thái cảnh giác cao độ – luôn trong tình trạng đề phòng mối đe dọa – hồi tưởng ám ảnh, ác mộng và trầm cảm. Các triệu chứng nghiêm trọng đến mức tôi phải nhập viện nhiều lần.
Trải nghiệm cá nhân khiến tôi vô cùng tò mò về cách trẻ em phản ứng và được hỗ trợ ra sao.
"Bằng chứng từ nhiều nghiên cứu khác nhau cho thấy rất rõ rằng việc phơi nhiễm với chiến tranh và cảnh ly tán có liên quan tới nguy cơ cao hơn mắc những vấn đề sức khỏe tâm thần", ông Michael Pluess, giáo sư tâm lý học tại Đại học Surrey, cho biết.
Ông đã tiến hành các nghiên cứu dài hạn về con cái của những người tị nạn chiến tranh Syria, và cảnh báo không nên đưa ra những giả định đơn giản.
"Quan trọng là việc thừa nhận rằng những đứa trẻ sẽ có cách phản ứng khác nhau".
Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết cục. Trẻ bị phơi nhiễm với các sự kiện gây sang chấn trong bao lâu ? Có bị thương về thể chất hay không ?
Có mất đi người thân quan trọng, hoặc chứng kiến cảnh họ bị giết hay bị thương không ? Sau đó, các em có được bảo đảm an toàn về mặt thể chất và có sự nâng đỡ về mặt cảm xúc hay không ?
Trong một mẫu nghiên cứu gồm 2.976 trẻ em tại Bosnia-Herzegovina – tất cả đều từng trải qua chiến tranh và ở độ tuổi từ 9 đến 14 – người ta ghi nhận mức độ cao các triệu chứng sang chấn sau chấn thương và biểu hiện đau buồn mất mát.
Tuy nhiên, vẫn tồn tại nguy cơ gây tổn hại sức khỏe lâu dài – như bệnh tim mạch hay các rối loạn tự miễn – có liên quan đến cái gọi là "stress độc hại", khi cơ thể sản sinh ra một lượng lớn các hormone như cortisol và catecholamine, những chất kích hoạt phản ứng adrenaline.
Song song đó, một lĩnh vực nghiên cứu đang hình thành là di truyền học biểu sinh (epigenetics), đặt câu hỏi liệu trải nghiệm sang chấn của một thế hệ có thể để lại dấu ấn ở các thế hệ sau thông qua những thay đổi trong cách gene hoạt động hay không.
Liệu chúng ta có dễ mắc các vấn đề như rối loạn sức khỏe tâm thần, nghiện ngập hoặc các bệnh lý khác hơn nếu gia đình có tiền sử sang chấn ? Và mức độ ảnh hưởng của yếu tố di truyền so với môi trường gia đình và đời sống hằng ngày đến đâu ?
Hiệu ứng 'nhỏ giọt' trong gia đình
Di truyền học biểu sinh vẫn là một lĩnh vực nghiên cứu còn dè dặt và gây tranh luận, với rất nhiều điều chưa được hiểu rõ.
"Tôi cho rằng có một số bằng chứng cho thấy tồn tại dạng truyền sang chấn giữa các thế hệ", giáo sư Pluess nói.
"Phần lớn – hoặc ít nhất là một phần đáng kể – diễn ra thông qua các thực hành xã hội chứ không phải sinh học, nhưng cũng có bằng chứng cho thấy các yếu tố biểu sinh có thể đóng vai trò nhất định".
Giáo sư Metin Başoğlu, Giám đốc Trung tâm Khoa học Hành vi Istanbul, tỏ ra hoài nghi.
Tuy nhiên, ông cho rằng có khả năng một số đặc điểm khí chất – chẳng hạn những khuynh hướng được truyền lại về mặt di truyền qua các thế hệ – có thể khiến một số người dễ tổn thương hơn trước các biến cố sang chấn.
Trong quá trình nghiên cứu cho một cuốn sách về chứng PTSD của bản thân, tôi nhớ lại cuộc trò chuyện với giáo sư Simon Wessely, cựu Chủ tịch Hiệp hội Tâm thần Hoàng gia và là một trong những chuyên gia hàng đầu của Anh trong lĩnh vực này.
Tôi tự hỏi liệu tiền sử gia đình của mình – những cụ kị sinh ra trong nạn đói ở Ireland, một người bà từng bị sang chấn do trải nghiệm chiến tranh vào thập niên 1920 – có thể khiến tôi có khuynh hướng di truyền cao hơn đối với PTSD hay không ?
"Đơn giản là không có cách nào biết được điều đó, trừ khi nghiên cứu trên một nhóm mẫu đại diện từ cùng một khu vực, với tổ tiên sinh ra ở cùng nơi và phải chịu những điều kiện giống nhau", ông nói với tôi.
"Tôi không thể làm điều đó trên một cá nhân…
"Điều mà tôi cho là dễ hiểu hơn nhiều – và theo tôi cũng là yếu tố mạnh mẽ nhất – chính là ảnh hưởng của nền tảng xuất thân. Và gần như bất khả thi để anh lớn lên trong một gia đình như vậy, với những mối quan tâm như thế, mà lại không bị tác động tương tự".
Hiện nay, có sự đồng thuận rộng rãi trong giới nghiên cứu rằng sang chấn là một cơn khủng hoảng của cả gia đình. Vấn đề không chỉ nằm ở những gì một đứa trẻ tận mắt chứng kiến hay trải qua – mà còn ở những tác động đối với người lớn.
"Không chỉ trẻ em ở các vùng chiến sự phải đối mặt với cái chết của người chăm sóc và những cuộc chia ly đầy thương tổn", giáo sư Betancourt nói, "mà chính những người chăm sóc, khi cũng đang chịu sang chấn và đau khổ của riêng mình, có thể không còn đủ khả năng để bảo vệ và dẫn dắt con cái vượt qua nỗi kinh hoàng của chiến tranh".
Nghiên cứu của giáo sư Pluess đối với các gia đình tị nạn Syria củng cố nhận định này. Trong số 80% trẻ em được xác định là dễ tổn thương với nhiều hơn một rối loạn tâm lý, hoàn cảnh gia đình đóng vai trò then chốt.
Một nghiên cứu đã được công bố vào năm 2022 với sự tham gia của khoảng 1.600 gia đình về người tị nạn Syria tại Lebanon.
Theo giáo sư Pluess, điều kiện sống của trẻ em – như khả năng tiếp cận nhà ở an toàn, thực phẩm và giáo dục – được chứng minh là "có tính dự báo về sức khỏe tâm thần cao hơn khoảng 10 lần".
Những đứa trẻ thích nghi tốt hơn về mặt tâm lý có thể là những em "sở hữu một môi trường xã hội mang tính bảo vệ rất mạnh : có thể cha mẹ đủ khả năng che chở, có thể các em có những tình bạn và mối quan hệ gắn bó, có thể được đi học – tất cả những yếu tố bên ngoài này đóng vai trò như một lớp đệm, giúp giảm nhẹ tác động tiêu cực của việc phơi nhiễm với chiến tranh".
Nguồn gốc của kiến thức này tại Anh có thể truy ngược về Thế chiến II, qua trải nghiệm của những đứa trẻ sống sót sau Blitz – tám tháng không kích của Đức, từ tháng 9/1940 đến tháng 5/1941.
Giáo sư Edgar Jones, Đại học King's College London, dẫn lại một nghiên cứu trên 212 trẻ em được điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng Great Ormond Street trong thời chiến.
Khi các nhà nghiên cứu theo dõi lại những đứa trẻ này vào năm 1949 – tức bốn năm sau khi chiến tranh kết thúc – họ nhận thấy chỉ có 21% hồi phục.
Vai trò của cha mẹ – cả tích cực lẫn tiêu cực –trở thành một phát hiện quan trọng.
"Mức độ phản ứng của trẻ em trước các đợt ném bom được đánh giá là chịu ảnh hưởng từ cách cha mẹ phản ứng với sang chấn, hoặc làm trầm trọng thêm, hoặc xoa dịu nỗi lo âu của con", giáo sư Jones cho hay.
Vượt qua nỗi sợ và tái lập kiểm soát
Từ trải nghiệm cá nhân, tôi nhận thấy liệu pháp tâm lý và thuốc men có tác dụng, nhưng điều không kém phần quan trọng là sự nâng đỡ bền bỉ từ gia đình và bạn bè.
Nếu không nhận được sức mạnh của những mối quan hệ yêu thương, tôi không nghĩ rằng mình có thể bước ra khỏi bóng tối.
Tôi cũng được khuyến khích đối diện với xu hướng né tránh mọi thứ có thể gợi lại sang chấn. Chẳng hạn, tôi từng có một giai đoạn dài tránh đi đến châu Phi, vì lo sợ rằng chỉ cần đặt chân tới đó cũng đủ khơi lại ký ức về nạn diệt chủng Rwanda.
Nhưng nhà trị liệu của tôi đã dần dần thúc đẩy tôi đối mặt với nỗi sợ ấy. Phải mất vài năm, nhưng cuối cùng tôi đã quay trở lại, và đến nay vẫn tiếp tục tới thăm những nơi gắn bó sâu sắc với trái tim mình.
Giáo sư Başoğlu là người tiên phong trong việc áp dụng phương pháp CFBT – Control Focused Behavioural Treatment (Liệu pháp hành vi tập trung vào kiểm soát) – đối với các nạn nhân sống sót sau trận động đất năm 1999 ở Thổ Nhĩ Kỳ, thảm họa khiến khoảng 18.000 người thiệt mạng.
Cốt lõi của phương pháp này là khuyến khích cá nhân giành lại quyền kiểm soát nỗi sợ trước khả năng biến cố tái diễn. Với những đứa trẻ luôn bám chặt lấy cha mẹ, điều này được thực hiện bằng cách giúp các em dần quen với việc ngủ một mình.
"Khi nỗi sợ được vượt qua, toàn bộ các phản ứng stress sang chấn gắn liền với nỗi sợ đó cũng sẽ thuyên giảm", giáo sư Başoğlu nói.
Các nhà tâm lý học Israel làm việc với những trẻ em được thả khỏi nơi giam giữ của Hamas sau các vụ tấn công ngày 7/10 cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tái lập cảm giác kiểm soát.
Trong một bài đăng trên tạp chí Child and Adolescent Psychiatry and Mental Health (tạm dịch : Tâm thần học và sức khỏe tinh thần trẻ em và thanh thiếu niên), nhóm chuyên gia Israel cho biết điều này có thể đạt được "bằng cách cung cấp thông tin cho những người sống sót, tạo không gian để họ bày tỏ lo lắng, đồng thời bảo đảm rằng các nhu cầu và tiếng nói của họ được lắng nghe".
Tuy nhiên, việc can thiệp chỉ có thể phát huy hiệu quả nếu được đặt trong một môi trường ổn định – nơi nỗi sợ bị giết hay trở thành phế nhân không phải một thực tại thường trực.
"Một điều khác họ cần là cha mẹ ổn định, được sống ở nơi an toàn, có cơ hội tiếp cận giáo dục, có nếp sinh hoạt thường nhật và cuộc sống phần nào dự đoán được", giáo sư Pluess nói.
Điều này hiếm khi được bảo đảm ở những vùng đất bị chiến tranh tàn phá. Các lệnh ngừng bắn dễ dàng sụp đổ. Tiền tuyến bị đóng băng. Người dân phải mắc kẹt trong các trại tị nạn.
'Chúng tôi đã bị phi nhân hóa'
Dẫu vậy, những lời nói về một nơi an toàn vẫn khiến tôi nhớ đến người bạn Beata và điểm khác biệt mà sự ổn định đã mang lại cho cuộc đời cô.
Beata mới 15 tuổi khi nạn diệt chủng Rwanda – vụ thảm sát quy mô lớn và tồi tệ nhất kể từ Holocaust của Đức Quốc xã – bùng nổ năm 1994. Trong vòng 100 ngày, có tới 800.000 người, chủ yếu thuộc sắc tộc Tutsi, đã bị sát hại.
Với tư cách một phóng viên, tôi đi theo đoàn xe sơ tán hàng chục trẻ em mồ côi – trong đó có Beata Umubyeyi Mairesse – xuyên qua các trạm kiểm soát do lực lượng dân quân Interahamwe khét tiếng kiểm soát.
Đó là một trải nghiệm kinh hoàng, đặc biệt đối với những đứa trẻ có gia đình đã bị sát hại.
Từ trạm này sang trạm khác, chúng tôi không biết liệu những băng nhóm vũ trang cầm dao rựa có tấn công hay không.
Nhiều năm sau, khi nghiên cứu lại những trải nghiệm của mình (sau này được xuất bản trong cuốn The Convoy), Beata đã liên lạc với tôi.
Tôi vẫn nhớ việc mình thấy ấn tượng mạnh vì sự điềm tĩnh và cởi mở của cô. Beata đã lập gia đình, có hai con, sống tại Pháp và hiện là một nhà văn thành đạt.
"Điều đầu tiên giúp tôi là được sang Pháp tị nạn, rời khỏi nơi diễn ra nạn diệt chủng. Tôi thấy mình an toàn, ở trong một môi trường yên bình, có chỗ ở, có gia đình nuôi dưỡng lo liệu mọi nhu cầu vật chất, và có cơ hội trị liệu tâm lý. Tôi quay lại trường học vào tháng Chín, và điều đó cũng giúp tôi rất nhiều".
Sau đó, mẹ của Beata – cũng là người sống sót – đã sang đoàn tụ. Cha cô đã qua đời trước khi cuộc thảm sát xảy ra.
Dù bề ngoài điềm tĩnh, những nỗi ám ảnh vẫn còn. Một đêm, cô hoảng loạn khi nghe nhạc cổ điển trên radio – thứ âm nhạc tương tự từng được phát trên đài Rwanda vào đêm nạn diệt chủng bắt đầu.
Pháo hoa hay tiếng súng của thợ săn cũng khiến cô chui xuống gầm bàn trong lớp học "vì tôi nghĩ chiến tranh đã nổ ra ở Pháp".
Tôi tự hỏi liệu cô có chủ động bảo vệ con mình khỏi "di sản sang chấn" của nạn diệt chủng hay không.
"Có những điều rất khó kể cho con cái, như việc chúng tôi đã bị phi nhân hóa ra sao, hay việc tôi suýt bị hãm hiếp. 'Không thể nói thành lời' thực sự có ý nghĩa khi truyền lại câu chuyện cho trẻ em. Chúng tôi sợ rằng sẽ khiến chúng bị nhiễm sang chấn của mình".
Nhưng với Beata, sắc thái đa dạng là điều cốt yếu.
"Hình ảnh duy nhất về Rwanda trong mắt các con tôi không nên chỉ là nạn diệt chủng. Tôi kể cho chúng nghe những câu chuyện tuổi thơ, và mỗi lần về đó tôi đều mang trái cây khi quay lại đây, để chúng có thể cảm nhận một đất nước tràn đầy hương vị".
Dù có cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc, Beata vẫn chịu đựng chứng lo âu và phải dùng thuốc chống trầm cảm để đối phó với chứng mất ngủ.
Tôi cũng sử dụng thuốc, và giống như Beata, tôi không coi đó là gánh nặng hay sự kỳ thị.
Trái lại, tôi xem mình là người may mắn khi có thể tiếp cận dịch vụ y tế và thuốc men.

Fergal Keane (thứ hai từ phải qua) ở Rwanda sau vụ diệt chủng
Việc xây dựng một cộng đồng an toàn cũng được nhiều chuyên gia coi là yếu tố then chốt.
"Trẻ em không chỉ là 'nạn nhân của các vấn đề sức khỏe tâm thần'", giáo sư Pluess nói.
"Trẻ em là những con người nhỏ bé với sở thích riêng. Vì thế các em cần được đến trường, cần có cơ hội chơi đùa cùng nhau – và điều đó có thể quan trọng không kém việc trực tiếp xử lý các vấn đề tâm lý mà các em đang đối mặt".
Các nhà tâm lý học làm việc tại Gaza hiểu rất rõ những nhu cầu này. Davide Musardo, người từng tình nguyện cho tổ chức Bác sĩ Không Biên giới (MSF), đã viết về nỗ lực tiến hành trị liệu trong không gian vang vọng tiếng thiết bị không người lái và các vụ nổ.
"Ở Gaza, người ta sống sót, nhưng việc phơi nhiễm với sang chấn là liên tục. Mọi thứ đều thiếu thốn, kể cả ý niệm về tương lai. Với người dân, nỗi đau lớn nhất không chỉ ở hiện tại – bom đạn, giao tranh và tang tóc – mà còn ở những gì sẽ đến sau đó. Niềm tin vào hòa bình và tái thiết là rất mong manh, và những đứa trẻ tôi gặp trong bệnh viện cho thấy những dấu hiệu thụt lùi rõ rệt".
Ở Gaza bị tàn phá, vẫn có khả năng lệnh ngừng bắn hiện nay sẽ trở thành một nền hòa bình lâu dài, cho phép tái thiết, khôi phục đời sống gia đình và giáo dục.
Có khả năng – nhưng không có gì chắc chắn.
Ở Sudan, các nỗ lực nối lại đàm phán hòa bình đang diễn ra, song triển vọng rất u ám. Cuộc chiến ở Ukraine, cùng nhiều cuộc chiến khác, vẫn tiếp diễn từng ngày.
Sang chấn đã tồn tại từ khi có chiến tranh. Các chính trị gia, nhà báo và chuyên gia khi nhìn về giai đoạn hậu xung đột thường đặt câu hỏi : "Điều gì sẽ xảy ra khi tiếng súng dừng lại ?"
Nhưng ở một nơi nào đó khác, bạo lực vẫn tiếp tục.
Đó là bi kịch dai dẳng của những đứa trẻ bị cuốn vào các cuộc chiến mà các em không khởi xướng, cũng không có quyền kiểm soát. Dù nhân loại đã tích lũy nhiều kiến thức về cách chữa trị sang chấn, chúng ta vẫn còn cách rất xa việc giải quyết nguyên nhân gốc rễ – chiến tranh.
Harriet Whitehead tường thuật bổ sung.
Sau đó, vào ngày 16/7/2024, một cuộc không kích đánh trúng ngôi trường ở Nuseirat, miền trung Gaza. Abdelrahman, khi đó 11 tuổi, bị thương nặng. Các bác sĩ buộc phải cắt bỏ một chân của em.
Tình trạng tâm lý của cậu bé bắt đầu xấu đi. "Thằng bé bắt đầu giật tóc và tự đánh mình rất mạnh", Asma kể lại.
"Nó trở nên giống như một người mắc trầm cảm, nhìn bạn bè chơi đùa, chạy nhảy… còn nó thì ngồi một mình".
Khi tôi gặp Abdelrahman tại một bệnh viện ở Jordan vào tháng 5/2025, cậu bé khép kín và dè dặt. Hàng chục trẻ em đã được sơ tán từ Gaza sang Jordan để điều trị y tế.
"Chúng cháu sẽ trở về Gaza", em nói với tôi. "Chúng cháu sẽ chết ở đó".
Abdelrahman là một trong hàng ngàn trẻ em bị sang chấn tâm lý mà tôi đã gặp trong gần bốn thập kỷ đưa tin về các cuộc xung đột. Một số gương mặt hằn sâu trong ký ức tôi.
Có những đứa bé tôi cảm thấy như vừa gặp hôm qua.
Những gương mặt ấy phản chiếu sự tàn khốc của nỗi kinh hoàng mà trẻ em phải gánh chịu trong thời đại hiện nay.
Lần đầu tiên là trên một ngọn đồi ở Eritrea vào giữa những năm 1980. Adonai Mikael khi đó là một đứa trẻ, nạn nhân của một cuộc tấn công bằng bom napalm của Ethiopia, khóc thét trong đau đớn khi gió thổi bụi bay vào các vết thương.
Những tiếng kêu gào, cùng ánh mắt hiện rõ nỗi đau tột cùng, khiến tôi phải vội vã rời khỏi chiếc lều nơi cậu bé ấy đang được điều trị.
Vài năm sau, tại Belfast, tôi còn nhớ hình ảnh một cậu bé lặng lẽ đi theo quan tài của cha – người bị IRA đánh bom sát hại. Trước đó tôi chưa từng thấy trong ánh mắt ai một sự xa cách tới vậy.
Ở Sierra Leone trong thời kỳ nội chiến, có cô bé bị một tay súng dân quân say rượu chặt đứt hai bàn tay ; ở Soweto, một đứa trẻ giúp mẹ lau vết máu của một nạn nhân bị sát hại ngay trước ngưỡng cửa nhà ; và ở Rwanda, một cậu bé suy sụp khi tôi hỏi vì sao những đứa trẻ khác gọi em là "Grenade" – một khoảnh khắc thiếu nhạy cảm mà tôi sẽ luôn ân hận.
Cậu bé đã bị thương trong một vụ nổ khiến cha mẹ em thiệt mạng.
Những con số cho thấy quy mô khủng khiếp của cuộc khủng hoảng này. Năm 2024, có tới 520 triệu trẻ em sống trong các khu vực xung đột – tức cứ năm trẻ em trên toàn thế giới thì có một em – theo phân tích của Viện Nghiên cứu Hòa bình Oslo, cơ quan đã kết hợp dữ liệu về các cuộc xung đột với số liệu dân số để đưa ra ước tính này.
Giáo sư Theresa Betancourt, tác giả cuốn Shadows into Light, viết về các cựu binh nhí, gọi đây là "thảm họa nhân đạo lớn nhất kể từ Thế chiến II".
Bà cảnh báo rằng sang chấn tâm lý để lại những tác động kéo dài rất lâu trong tương lai.
"[Nó có thể ảnh hưởng đến] cấu trúc đang hình thành của não bộ ở trẻ nhỏ, với những hệ quả suốt đời đối với khả năng học tập, hành vi, cũng như sức khỏe thể chất và tinh thần".
Nhưng khi đã có rất nhiều nghiên cứu về tác động của chiến tranh đối với tâm trí trẻ em, câu hỏi đặt ra là : điều gì có thể giúp được chúng ?
Tính thời sự của câu hỏi này chưa bao giờ rõ ràng như hiện nay, trong bối cảnh xung đột toàn cầu ảnh hưởng đến hàng triệu trẻ em : từ những đứa trẻ ở Sudan chứng kiến mẹ và chị em gái bị dân quân hãm hiếp ở el-Fasher, Darfur, vào tháng 10/2025 ; những em nhỏ bị Hamas bắt cóc khỏi Israel vào ngày 7/10/2023, nhiều em đã tận mắt thấy gia đình và hàng xóm bị thảm sát ; những đứa trẻ ở Bucha, Ukraine, có cha mẹ nằm trong số những người bị lính Nga sát hại vào tháng 2/2022 ; cho đến hàng trăm ngàn trẻ em như Abdelrahman, những đứa trẻ đã phải chịu đựng hơn hai năm chiến tranh ở Gaza.
Tôi xin chia sẻ một trải nghiệm cá nhân. Tôi từng mắc rối loạn stress sau sang chấn (Post-traumatic stress disorder – PTSD) từ khi còn là một đứa trẻ lớn lên trong một gia đình tan vỡ, và sau này khi trưởng thành và chứng kiến chiến tranh và nạn diệt chủng.
Dù không trải qua chiến tranh khi còn nhỏ, tôi hiểu quá rõ các triệu chứng : lo âu cực độ, trạng thái cảnh giác cao độ – luôn trong tình trạng đề phòng mối đe dọa – hồi tưởng ám ảnh, ác mộng và trầm cảm. Các triệu chứng nghiêm trọng đến mức tôi phải nhập viện nhiều lần.
Trải nghiệm cá nhân khiến tôi vô cùng tò mò về cách trẻ em phản ứng và được hỗ trợ ra sao.
"Bằng chứng từ nhiều nghiên cứu khác nhau cho thấy rất rõ rằng việc phơi nhiễm với chiến tranh và cảnh ly tán có liên quan tới nguy cơ cao hơn mắc những vấn đề sức khỏe tâm thần", ông Michael Pluess, giáo sư tâm lý học tại Đại học Surrey, cho biết.
Ông đã tiến hành các nghiên cứu dài hạn về con cái của những người tị nạn chiến tranh Syria, và cảnh báo không nên đưa ra những giả định đơn giản.
"Quan trọng là việc thừa nhận rằng những đứa trẻ sẽ có cách phản ứng khác nhau".
Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết cục. Trẻ bị phơi nhiễm với các sự kiện gây sang chấn trong bao lâu ? Có bị thương về thể chất hay không ?
Có mất đi người thân quan trọng, hoặc chứng kiến cảnh họ bị giết hay bị thương không ? Sau đó, các em có được bảo đảm an toàn về mặt thể chất và có sự nâng đỡ về mặt cảm xúc hay không ?
Trong một mẫu nghiên cứu gồm 2.976 trẻ em tại Bosnia-Herzegovina – tất cả đều từng trải qua chiến tranh và ở độ tuổi từ 9 đến 14 – người ta ghi nhận mức độ cao các triệu chứng sang chấn sau chấn thương và biểu hiện đau buồn mất mát.
Tuy nhiên, vẫn tồn tại nguy cơ gây tổn hại sức khỏe lâu dài – như bệnh tim mạch hay các rối loạn tự miễn – có liên quan đến cái gọi là "stress độc hại", khi cơ thể sản sinh ra một lượng lớn các hormone như cortisol và catecholamine, những chất kích hoạt phản ứng adrenaline.
Song song đó, một lĩnh vực nghiên cứu đang hình thành là di truyền học biểu sinh (epigenetics), đặt câu hỏi liệu trải nghiệm sang chấn của một thế hệ có thể để lại dấu ấn ở các thế hệ sau thông qua những thay đổi trong cách gene hoạt động hay không.
Liệu chúng ta có dễ mắc các vấn đề như rối loạn sức khỏe tâm thần, nghiện ngập hoặc các bệnh lý khác hơn nếu gia đình có tiền sử sang chấn ? Và mức độ ảnh hưởng của yếu tố di truyền so với môi trường gia đình và đời sống hằng ngày đến đâu ?
Hiệu ứng 'nhỏ giọt' trong gia đình
Di truyền học biểu sinh vẫn là một lĩnh vực nghiên cứu còn dè dặt và gây tranh luận, với rất nhiều điều chưa được hiểu rõ.
"Tôi cho rằng có một số bằng chứng cho thấy tồn tại dạng truyền sang chấn giữa các thế hệ", giáo sư Pluess nói.
"Phần lớn – hoặc ít nhất là một phần đáng kể – diễn ra thông qua các thực hành xã hội chứ không phải sinh học, nhưng cũng có bằng chứng cho thấy các yếu tố biểu sinh có thể đóng vai trò nhất định".
Giáo sư Metin Başoğlu, Giám đốc Trung tâm Khoa học Hành vi Istanbul, tỏ ra hoài nghi.
Tuy nhiên, ông cho rằng có khả năng một số đặc điểm khí chất – chẳng hạn những khuynh hướng được truyền lại về mặt di truyền qua các thế hệ – có thể khiến một số người dễ tổn thương hơn trước các biến cố sang chấn.
Trong quá trình nghiên cứu cho một cuốn sách về chứng PTSD của bản thân, tôi nhớ lại cuộc trò chuyện với giáo sư Simon Wessely, cựu Chủ tịch Hiệp hội Tâm thần Hoàng gia và là một trong những chuyên gia hàng đầu của Anh trong lĩnh vực này.
Tôi tự hỏi liệu tiền sử gia đình của mình – những cụ kị sinh ra trong nạn đói ở Ireland, một người bà từng bị sang chấn do trải nghiệm chiến tranh vào thập niên 1920 – có thể khiến tôi có khuynh hướng di truyền cao hơn đối với PTSD hay không ?
"Đơn giản là không có cách nào biết được điều đó, trừ khi nghiên cứu trên một nhóm mẫu đại diện từ cùng một khu vực, với tổ tiên sinh ra ở cùng nơi và phải chịu những điều kiện giống nhau", ông nói với tôi.
"Tôi không thể làm điều đó trên một cá nhân…
"Điều mà tôi cho là dễ hiểu hơn nhiều – và theo tôi cũng là yếu tố mạnh mẽ nhất – chính là ảnh hưởng của nền tảng xuất thân. Và gần như bất khả thi để anh lớn lên trong một gia đình như vậy, với những mối quan tâm như thế, mà lại không bị tác động tương tự".
Hiện nay, có sự đồng thuận rộng rãi trong giới nghiên cứu rằng sang chấn là một cơn khủng hoảng của cả gia đình. Vấn đề không chỉ nằm ở những gì một đứa trẻ tận mắt chứng kiến hay trải qua – mà còn ở những tác động đối với người lớn.
"Không chỉ trẻ em ở các vùng chiến sự phải đối mặt với cái chết của người chăm sóc và những cuộc chia ly đầy thương tổn", giáo sư Betancourt nói, "mà chính những người chăm sóc, khi cũng đang chịu sang chấn và đau khổ của riêng mình, có thể không còn đủ khả năng để bảo vệ và dẫn dắt con cái vượt qua nỗi kinh hoàng của chiến tranh".
Nghiên cứu của giáo sư Pluess đối với các gia đình tị nạn Syria củng cố nhận định này. Trong số 80% trẻ em được xác định là dễ tổn thương với nhiều hơn một rối loạn tâm lý, hoàn cảnh gia đình đóng vai trò then chốt.
Một nghiên cứu đã được công bố vào năm 2022 với sự tham gia của khoảng 1.600 gia đình về người tị nạn Syria tại Lebanon.
Theo giáo sư Pluess, điều kiện sống của trẻ em – như khả năng tiếp cận nhà ở an toàn, thực phẩm và giáo dục – được chứng minh là "có tính dự báo về sức khỏe tâm thần cao hơn khoảng 10 lần".
Những đứa trẻ thích nghi tốt hơn về mặt tâm lý có thể là những em "sở hữu một môi trường xã hội mang tính bảo vệ rất mạnh : có thể cha mẹ đủ khả năng che chở, có thể các em có những tình bạn và mối quan hệ gắn bó, có thể được đi học – tất cả những yếu tố bên ngoài này đóng vai trò như một lớp đệm, giúp giảm nhẹ tác động tiêu cực của việc phơi nhiễm với chiến tranh".
Nguồn gốc của kiến thức này tại Anh có thể truy ngược về Thế chiến II, qua trải nghiệm của những đứa trẻ sống sót sau Blitz – tám tháng không kích của Đức, từ tháng 9/1940 đến tháng 5/1941.
Giáo sư Edgar Jones, Đại học King's College London, dẫn lại một nghiên cứu trên 212 trẻ em được điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng Great Ormond Street trong thời chiến.
Khi các nhà nghiên cứu theo dõi lại những đứa trẻ này vào năm 1949 – tức bốn năm sau khi chiến tranh kết thúc – họ nhận thấy chỉ có 21% hồi phục.
Vai trò của cha mẹ – cả tích cực lẫn tiêu cực –trở thành một phát hiện quan trọng.
"Mức độ phản ứng của trẻ em trước các đợt ném bom được đánh giá là chịu ảnh hưởng từ cách cha mẹ phản ứng với sang chấn, hoặc làm trầm trọng thêm, hoặc xoa dịu nỗi lo âu của con", giáo sư Jones cho hay.
Vượt qua nỗi sợ và tái lập kiểm soát
Từ trải nghiệm cá nhân, tôi nhận thấy liệu pháp tâm lý và thuốc men có tác dụng, nhưng điều không kém phần quan trọng là sự nâng đỡ bền bỉ từ gia đình và bạn bè.
Nếu không nhận được sức mạnh của những mối quan hệ yêu thương, tôi không nghĩ rằng mình có thể bước ra khỏi bóng tối.
Tôi cũng được khuyến khích đối diện với xu hướng né tránh mọi thứ có thể gợi lại sang chấn. Chẳng hạn, tôi từng có một giai đoạn dài tránh đi đến châu Phi, vì lo sợ rằng chỉ cần đặt chân tới đó cũng đủ khơi lại ký ức về nạn diệt chủng Rwanda.
Nhưng nhà trị liệu của tôi đã dần dần thúc đẩy tôi đối mặt với nỗi sợ ấy. Phải mất vài năm, nhưng cuối cùng tôi đã quay trở lại, và đến nay vẫn tiếp tục tới thăm những nơi gắn bó sâu sắc với trái tim mình.
Giáo sư Başoğlu là người tiên phong trong việc áp dụng phương pháp CFBT – Control Focused Behavioural Treatment (Liệu pháp hành vi tập trung vào kiểm soát) – đối với các nạn nhân sống sót sau trận động đất năm 1999 ở Thổ Nhĩ Kỳ, thảm họa khiến khoảng 18.000 người thiệt mạng.
Cốt lõi của phương pháp này là khuyến khích cá nhân giành lại quyền kiểm soát nỗi sợ trước khả năng biến cố tái diễn. Với những đứa trẻ luôn bám chặt lấy cha mẹ, điều này được thực hiện bằng cách giúp các em dần quen với việc ngủ một mình.
"Khi nỗi sợ được vượt qua, toàn bộ các phản ứng stress sang chấn gắn liền với nỗi sợ đó cũng sẽ thuyên giảm", giáo sư Başoğlu nói.
Các nhà tâm lý học Israel làm việc với những trẻ em được thả khỏi nơi giam giữ của Hamas sau các vụ tấn công ngày 7/10 cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tái lập cảm giác kiểm soát.
Trong một bài đăng trên tạp chí Child and Adolescent Psychiatry and Mental Health (tạm dịch : Tâm thần học và sức khỏe tinh thần trẻ em và thanh thiếu niên), nhóm chuyên gia Israel cho biết điều này có thể đạt được "bằng cách cung cấp thông tin cho những người sống sót, tạo không gian để họ bày tỏ lo lắng, đồng thời bảo đảm rằng các nhu cầu và tiếng nói của họ được lắng nghe".
Tuy nhiên, việc can thiệp chỉ có thể phát huy hiệu quả nếu được đặt trong một môi trường ổn định – nơi nỗi sợ bị giết hay trở thành phế nhân không phải một thực tại thường trực.
"Một điều khác họ cần là cha mẹ ổn định, được sống ở nơi an toàn, có cơ hội tiếp cận giáo dục, có nếp sinh hoạt thường nhật và cuộc sống phần nào dự đoán được", giáo sư Pluess nói.
Điều này hiếm khi được bảo đảm ở những vùng đất bị chiến tranh tàn phá. Các lệnh ngừng bắn dễ dàng sụp đổ. Tiền tuyến bị đóng băng. Người dân phải mắc kẹt trong các trại tị nạn.
'Chúng tôi đã bị phi nhân hóa'
Dẫu vậy, những lời nói về một nơi an toàn vẫn khiến tôi nhớ đến người bạn Beata và điểm khác biệt mà sự ổn định đã mang lại cho cuộc đời cô.
Beata mới 15 tuổi khi nạn diệt chủng Rwanda – vụ thảm sát quy mô lớn và tồi tệ nhất kể từ Holocaust của Đức Quốc xã – bùng nổ năm 1994. Trong vòng 100 ngày, có tới 800.000 người, chủ yếu thuộc sắc tộc Tutsi, đã bị sát hại.
Với tư cách một phóng viên, tôi đi theo đoàn xe sơ tán hàng chục trẻ em mồ côi – trong đó có Beata Umubyeyi Mairesse – xuyên qua các trạm kiểm soát do lực lượng dân quân Interahamwe khét tiếng kiểm soát.
Đó là một trải nghiệm kinh hoàng, đặc biệt đối với những đứa trẻ có gia đình đã bị sát hại.
Từ trạm này sang trạm khác, chúng tôi không biết liệu những băng nhóm vũ trang cầm dao rựa có tấn công hay không.
Nhiều năm sau, khi nghiên cứu lại những trải nghiệm của mình (sau này được xuất bản trong cuốn The Convoy), Beata đã liên lạc với tôi.
Tôi vẫn nhớ việc mình thấy ấn tượng mạnh vì sự điềm tĩnh và cởi mở của cô. Beata đã lập gia đình, có hai con, sống tại Pháp và hiện là một nhà văn thành đạt.
"Điều đầu tiên giúp tôi là được sang Pháp tị nạn, rời khỏi nơi diễn ra nạn diệt chủng. Tôi thấy mình an toàn, ở trong một môi trường yên bình, có chỗ ở, có gia đình nuôi dưỡng lo liệu mọi nhu cầu vật chất, và có cơ hội trị liệu tâm lý. Tôi quay lại trường học vào tháng Chín, và điều đó cũng giúp tôi rất nhiều".
Sau đó, mẹ của Beata – cũng là người sống sót – đã sang đoàn tụ. Cha cô đã qua đời trước khi cuộc thảm sát xảy ra.
Dù bề ngoài điềm tĩnh, những nỗi ám ảnh vẫn còn. Một đêm, cô hoảng loạn khi nghe nhạc cổ điển trên radio – thứ âm nhạc tương tự từng được phát trên đài Rwanda vào đêm nạn diệt chủng bắt đầu.
Pháo hoa hay tiếng súng của thợ săn cũng khiến cô chui xuống gầm bàn trong lớp học "vì tôi nghĩ chiến tranh đã nổ ra ở Pháp".
Tôi tự hỏi liệu cô có chủ động bảo vệ con mình khỏi "di sản sang chấn" của nạn diệt chủng hay không.
"Có những điều rất khó kể cho con cái, như việc chúng tôi đã bị phi nhân hóa ra sao, hay việc tôi suýt bị hãm hiếp. 'Không thể nói thành lời' thực sự có ý nghĩa khi truyền lại câu chuyện cho trẻ em. Chúng tôi sợ rằng sẽ khiến chúng bị nhiễm sang chấn của mình".
Nhưng với Beata, sắc thái đa dạng là điều cốt yếu.
"Hình ảnh duy nhất về Rwanda trong mắt các con tôi không nên chỉ là nạn diệt chủng. Tôi kể cho chúng nghe những câu chuyện tuổi thơ, và mỗi lần về đó tôi đều mang trái cây khi quay lại đây, để chúng có thể cảm nhận một đất nước tràn đầy hương vị".
Dù có cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc, Beata vẫn chịu đựng chứng lo âu và phải dùng thuốc chống trầm cảm để đối phó với chứng mất ngủ.
Tôi cũng sử dụng thuốc, và giống như Beata, tôi không coi đó là gánh nặng hay sự kỳ thị.
Trái lại, tôi xem mình là người may mắn khi có thể tiếp cận dịch vụ y tế và thuốc men.

Fergal Keane (thứ hai từ phải qua) ở Rwanda sau vụ diệt chủng
Việc xây dựng một cộng đồng an toàn cũng được nhiều chuyên gia coi là yếu tố then chốt.
"Trẻ em không chỉ là 'nạn nhân của các vấn đề sức khỏe tâm thần'", giáo sư Pluess nói.
"Trẻ em là những con người nhỏ bé với sở thích riêng. Vì thế các em cần được đến trường, cần có cơ hội chơi đùa cùng nhau – và điều đó có thể quan trọng không kém việc trực tiếp xử lý các vấn đề tâm lý mà các em đang đối mặt".
Các nhà tâm lý học làm việc tại Gaza hiểu rất rõ những nhu cầu này. Davide Musardo, người từng tình nguyện cho tổ chức Bác sĩ Không Biên giới (MSF), đã viết về nỗ lực tiến hành trị liệu trong không gian vang vọng tiếng thiết bị không người lái và các vụ nổ.
"Ở Gaza, người ta sống sót, nhưng việc phơi nhiễm với sang chấn là liên tục. Mọi thứ đều thiếu thốn, kể cả ý niệm về tương lai. Với người dân, nỗi đau lớn nhất không chỉ ở hiện tại – bom đạn, giao tranh và tang tóc – mà còn ở những gì sẽ đến sau đó. Niềm tin vào hòa bình và tái thiết là rất mong manh, và những đứa trẻ tôi gặp trong bệnh viện cho thấy những dấu hiệu thụt lùi rõ rệt".
Ở Gaza bị tàn phá, vẫn có khả năng lệnh ngừng bắn hiện nay sẽ trở thành một nền hòa bình lâu dài, cho phép tái thiết, khôi phục đời sống gia đình và giáo dục.
Có khả năng – nhưng không có gì chắc chắn.
Ở Sudan, các nỗ lực nối lại đàm phán hòa bình đang diễn ra, song triển vọng rất u ám. Cuộc chiến ở Ukraine, cùng nhiều cuộc chiến khác, vẫn tiếp diễn từng ngày.
Sang chấn đã tồn tại từ khi có chiến tranh. Các chính trị gia, nhà báo và chuyên gia khi nhìn về giai đoạn hậu xung đột thường đặt câu hỏi : "Điều gì sẽ xảy ra khi tiếng súng dừng lại ?"
Nhưng ở một nơi nào đó khác, bạo lực vẫn tiếp tục.
Đó là bi kịch dai dẳng của những đứa trẻ bị cuốn vào các cuộc chiến mà các em không khởi xướng, cũng không có quyền kiểm soát. Dù nhân loại đã tích lũy nhiều kiến thức về cách chữa trị sang chấn, chúng ta vẫn còn cách rất xa việc giải quyết nguyên nhân gốc rễ – chiến tranh.
Harriet Whitehead tường thuật bổ sung.
Fergal Keane
Nguồn : BBC, 01/01/2026