Biên giới phía Bắc 1979: 5 ý đồ của Trung Quốc khi tấn công Việt Nam (Infonet)
'Trong lúc mâu thuẫn Trung – Xô sâu sắc,
quan hệ Việt – Xô lại phát triển ngày càng mạnh mẽ, đã tác động mạnh đến
những tính toán chiến lược của Trung Quốc. Ngày 3/11/1978, Việt Nam và
Liên Xô ký Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác, đánh dấu bước phát triển mới
của tình đoàn kết và hợp tác toàn diện giữa hai nước'. Hành động thiếu viễn kiến này và việc đem quân vào Campuchia trước đó đã khiêu khích và đổ thêm dầu vào lửa khiến TQ quyết định tấn công và 'dạy cho VN một bài học'.
Từ
cuối năm 1978, Trung Quốc tăng cường làm đường cơ động, xây dựng căn
cứ, hệ thống kho trạm, vận chuyển tập kết vật chất, sơ tán dân về phía
sau. Đồng thời, thực hiện các hoạt động nghi binh, đề ra kế hoạch “dạy
cho Việt Nam một bài học” và chuẩn bị chiến tranh “trừng phạt Việt Nam”.
Năm
1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời và ngay từ những ngày đầu,
chính phủ nước này đã áp dụng chính sách ngoại giao “Nhất biên đảo”
(nghiêng hẳn về phe xã hội chủ nghĩa). Chính sách này đã đạt được những
kết quả tích cực, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng thế giới phát
triển mạnh mẽ.
Tuy nhiên, trong giai đoạn 1959-1969,
quan hệ Trung – Xô – Mỹ có những diễn biến phức tạp, bắt đầu từ sự rạn
nứt trong quan hệ Trung – Xô, đỉnh điểm là cuộc xung đột biên giới năm
1969. Trái ngược với mâu thuẫn sâu sắc trong quan hệ Trung – Xô, quan hệ
Trung – Mỹ xích lại gần nhau hơn và sự kiện Tổng thống Mỹ Nixon thăm
Bắc Kinh vào tháng 2/1972 được coi là một “cột mốc quan trọng làm xoay
chuyển cục diện thế giới”.
Trong lúc mâu thuẫn Trung – Xô sâu sắc,
quan hệ Việt – Xô lại phát triển ngày càng mạnh mẽ, đã tác động mạnh đến
những tính toán chiến lược của Trung Quốc. Ngày 3/11/1978, Việt Nam và
Liên Xô ký Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác, đánh dấu bước phát triển mới
của tình đoàn kết và hợp tác toàn diện giữa hai nước.
Ngày 17/4/1975, tập đoàn Pol Pot lên nắm quyền ở Campuchia, lập ra nhà nước “Campuchia dân chủ”
thực hiện chính sách diệt chủng cực kỳ tàn bạo ở Campuchia và xâm lược
biên giới Tây Nam của Việt Nam. Trước hành động xâm lược và diệt chủng
tàn bạo của chế độ Pol Pot, đáp lời kêu gọi của Mặt trận Đoàn kết dân
tộc cứu nước Campuchia, Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam đã
thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình, đập tan các hành động xâm
lược, cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng Pôn Pốt,
giải phóng Campuchia vào ngày 7/1/1979.
Thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong
Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc cùng nhân dân
Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng Pol Pot đã đẩy sự căng thẳng
trong quan hệ Trung Quốc – Việt Nam lên đỉnh điểm.
Trung Quốc đã chuẩn bị để tấn công Việt Nam như thế nào?
Ngay từ đầu những năm Việt Nam thống
nhất đất nước, Trung Quốc đã thể hiện rõ ý đồ gây sự bằng việc liên tục
tăng cường các hoạt động quân sự, khiêu khích vũ trang, xâm lấn đất đai
(từ 234 vụ năm 1975, 812 vụ năm 1976, tăng lên 873 vụ năm 1977 và đặc
biệt là năm 1978 lên tới 2.175 vụ), gây tình hình căng thẳng, phức tạp
trên vùng biên giới phía Bắc Việt Nam.
Từ tháng 5/1978, Trung Quốc dựng lên “sự
kiện nạn kiều”, thực chất là dụ dỗ, đe dọa, lần lượt cưỡng ép gần 20
vạn Hoa kiều đang sống yên ổn ở Việt Nam phải về nước. Tiếp đó, họ trắng
trợn vu cáo Việt Nam ngược đãi, khủng bố xua đuổi Hoa kiều, rút chuyên
gia về nước, gây ra tình hình hết sức căng thẳng.
Từ cuối năm 1978, Trung Quốc tăng cường
làm đường cơ động, xây dựng căn cứ, hệ thống kho trạm, vận chuyển tập
kết vật chất, sơ tán dân về phía sau. Đồng thời, thực hiện các hoạt động
nghi binh, đề ra kế hoạch “dạy cho Việt Nam một bài học” và chuẩn bị
chiến tranh “trừng phạt Việt Nam”. Họ tuyên bố lừa mị dư luận trong nước
và quốc tế rằng chỉ sử dụng lực lượng “bộ đội biên phòng” để thực hiện
“phản kích tự vệ”, bởi Việt Nam gây ra xung đột, “lấn chiếm đất đai”,
“quấy rối biên cương” phía Nam.
Thực tế, trên vùng biên giới Việt –
Trung không có lực lượng vũ trang nào của Việt Nam được triển khai gây
sức ép buộc Trung Quốc phải “tự vệ”, chỉ có phía Trung Quốc chuẩn bị lực
lượng quy mô lớn đánh Việt Nam.
![]() |
Xe tăng Trung Quốc ồ ạt tiến vào Việt Nam sáng ngày 17/2/1979. |
Từ tháng 8/1978, phía Trung Quốc điều
động lực lượng từ phía sau ra biên giới gồm 9 quân đoàn và 5 sư đoàn độc
lập (tổng cộng 32 sư đoàn bộ binh), cùng 550 xe tăng, xe bọc thép,
2.558 pháo (trong đó có 1.092 pháo xe kéo), 676 máy bay…
Trên hướng biển có hàng chục tàu chiến
thuộc Hạm đội Nam Hải hỗ trợ. Ngoài ra, phía Trung Quốc còn bố trí nhiều
trận địa pháo, trạm ra đa, trang bị vũ khí cho dân binh các công xã ở
vùng biên giới, tổ chức nhiều cuộc diễn tập, gây căng thẳng trên vùng
biên giới phía Bắc.
5 ý đồ của Trung Quốc
Đêm 16 rạng ngày 17/2/1979 (đêm thứ Bảy
rạng ngày Chủ nhật), lợi dụng trời tối, sương mù, phía Trung Quốc bí mật
đưa lực lượng lớn vượt biên, luồn sâu, ém sẵn ở nhiều khu vực trên toàn
tuyến biên giới, từ Pò Hèn (Quảng Ninh) đến Pa Nậm Cúm (Lai Châu); đồng
thời triển khai đội hình gồm một lực lượng lớn áp sát biên giới chuẩn
bị tiến công.
Mở cuộc chiến tranh trên biên giới phía Bắc nước ta, quân xâm lược Trung Quốc hy vọng thực hiện được 5 mục tiêu:
Một là, cứu chế độ diệt chủng
Pol Pot, giữ Campuchia trong quỹ đạo của họ (mục tiêu chủ yếu). Ý đồ là
chiếm một số khu vực đất đai của ta ở gần biên giới, nếu ta sơ hở sẽ
tiến vào sâu, buộc ta phải đàm phán, đòi ta rút quân khỏi Campuchia để
đánh đổi việc họ rút quân. Mức thấp là đánh để buộc Việt Nam vì lo bảo
vệ miền Bắc sẽ phải rút quân khỏi Campuchia, tạo điều kiện cho quân Pôn
Pốt bảo toàn lực lượng, giữ được các căn cứ, đẩy mạnh hoạt động, hòng
khôi phục lật lại chính quyền Campuchia Dân chủ.
Hai là, tranh thủ Mỹ và các
nước đế quốc giúp họ xây dựng “bốn hiện đại hóa” (nông nghiệp, công
nghiệp, quân đội và khoa học – kỹ thuật).
Ba là, phá hoại tiềm lực quốc
phòng và kinh tế của ta, làm ta suy yếu. Ý đồ của họ là tiêu diệt một bộ
phận lực lượng vũ trang ta, nhất là khối bộ đội chủ lực, phá hoại các
cơ sở kinh tế, tàn sát gây tâm lý khủng khiếp trong nhân dân ta, kích
động bạo loạn, hạ uy thế quân sự, chính trị to lớn của ta sau chiến
thắng 30/4/1975.
Bốn là, uy hiếp từ Lào về phía
Bắc, làm suy yếu liên minh chiến đấu Việt – Lào, buộc Lào phải “trung
lập” trong cuộc đấu tranh giữa ta và họ; phá hoại Lào toàn diện, buộc
Lào theo họ chống lại ta, uy hiếp ta từ phía Tây. Đồng thời thị uy các
nước Đông Nam Á, gỡ thể diện cho họ sau thất bại nặng nề ở Campuchia.
Năm là, thăm dò phản ứng của Liên Xô và dư luận thế giới để chuẩn bị cho những bước phiêu lưu sau này.
![]() |
Xe tăng Trung Quốc bị bắn hạ ở bản Sẩy (Cao Bằng) |
Quân và dân Việt Nam sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc
Trước diễn biến căng thẳng trên vùng
biên giới phía Bắc, Đảng và Nhà nước ta kiên trì chủ trương giải quyết
bằng biện pháp hòa bình; đồng thời khẩn trương tăng cường lực lượng, đẩy
mạnh xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trên phạm vi
cả nước, nhất là ở Quân khu 1 và Quân khu 2. Đây là một địa bàn chiến
lược rất quan trọng, án ngữ toàn bộ vùng biên giới phía Bắc, Tây Bắc và
Đông Bắc của Tổ quốc, có chung đường biên giới với Trung Quốc dài hơn
1.400km, chạy qua 145 xã, 19 thị trấn thuộc 27 huyện của 6 tỉnh (Cao
Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Tuyên (nay là Hà Giang, Tuyên Quang),
Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai, Yên Bái), Lai Châu).
Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội
Biên phòng) Việt Nam làm nhiệm vụ ở các đồn và cửa khẩu vùng biên giới
các tỉnh phía Bắc thường xuyên tuyên truyền đường lối, chính sách của
Đảng, Nhà nước ta, tạo điều kiện thuận lợi, bảo đảm an toàn tính mạng,
tài sản cho Hoa kiều trở về nước. Trong cuộc đấu tranh chống âm mưu
cưỡng ép người Hoa về nước, một số cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng
Việt Nam đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.
Tháng 7/1978, Hội nghị Trung ương lần
thứ tư (khóa IV) của Đảng đã chỉ đạo tập trung lực lượng để giải quyết
nhanh nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên hướng biên giới Tây Nam; đồng thời
động viên, tăng cường lực lượng và công tác phòng thủ của đất nước ở
biên giới phía Bắc.
Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Chấp hành
Trung ương, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, các đơn vị quân đội
được chấn chỉnh, tăng cường về tổ chức biên chế, bổ sung quân số, vũ
khí, trang bị, nâng cao sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng nhận và hoàn thành
nhiệm vụ được giao.
![]() |
Ngày 6/1/1979, Ban Chấp hành Trung ương
Đảng ra Chỉ thị về việc tăng cường chiến đấu ở các tỉnh phía Bắc, nêu
rõ: “Phải theo dõi nắm chắc tình hình địch, kịp thời phát hiện âm mưu và
hành động tiến công phá hoại của chúng, quyết không để bị bất ngờ,
không mắc mưu khiêu khích của chúng… Gấp rút đẩy mạnh công tác sẵn sàng
chiến đấu ở các địa phương trên toàn biên giới, bảo đảm sẵn sàng đánh
bại địch ngay từ đầu trong bất kỳ tình huống nào”.
Thực hiện Chỉ thị của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tham mưu, quân và dân cả
nước, đặc biệt là lực lượng vũ trang Quân khu 1, Quân khu 2, nhân dân
các tỉnh biên giới phía Bắc đã nhanh chóng chuyển địa bàn, vốn là hậu
phương trước đây, thành tiền tuyến của cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở
biên giới phía Bắc.
Quân khu 1, Quân khu 2 và nhân dân các
tỉnh biên giới phía Bắc gấp rút củng cố thế trận phòng thủ, chấn chỉnh
tổ chức biên chế, bổ sung quân số và trang bị kỹ thuật, tăng cường huấn
luyện, hoàn chỉnh phương án tác chiến, sẵn sàng chiến đấu cao.
Các tỉnh (thành), huyện (quận) ở tuyến
sau cũng dự kiến kế hoạch chuẩn bị lực lượng, chủ động hiệp đồng giữa
các ngành và địa phương, khi cần kịp thời cơ động lực lượng chiến đấu
chi viện các tỉnh, huyện tuyến trước; đồng thời có kế hoạch sơ tán và tổ
chức lực lượng tại chỗ, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ hậu phương.
Lê Gạch (tổng hợp)