Vụ án Trịnh Bá Phương : tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm (Trịnh Thị Thảo)


Tóm lược tranh luận giữa Luật sư và Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm ngày 28/12/2025

Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng đã đưa ra quan điểm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trịnh Bá Phương.

Trinh Bá Tư, Trinh Bá Phương và bà Cấn Thị Thêu, cả ba đã bị kết những bản án tù nặng nề và hiện đang bị giam cầm vì dám bảo vệ nông dân mất đất.

Những căn cứ mà vị Kiểm sát viên đưa ra là :

- Có lời khai của hai nhân chứng về việc thu giữ vật chứng tại buồng giam ông Trịnh Bá Phương ;

- Có biên bản thu giữ tài liệu, đồ vật ;

- Có kết luận giám định về tài liệu, đồ vật bị thu giữ.

Luật sư bào chữa cho ông Trịnh Bá Phương đã không đồng ý với quan điểm và những căn cứ do vị Kiểm sát viên nêu ra. Luật sư chứng minh cả ba căn cứ mà vị Kiểm sát viên nêu ra đều không phù hợp với quy định của pháp luật, cụ thể :

1. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông vẫn chưa được tiếp cận hồ sơ vụ án để có cơ sở thực hiện một cách đầy đủ và tốt nhất quyền tự bào chữa của mình. Yêu cầu tiếp cận hồ sơ vụ án đã được ông và các luật sư đưa ra trước, trong phiên tòa sơ thẩm và cả trước phiên tòa phúc thẩm.

2. Có đến bốn mô tả khác nhau về dòng biểu ngữ trên tài liệu được cho là liên quan đến vụ án :

- Mô tả thứ nhất được nêu tại các BL 01, 17, 18, 19 (phiếu chuyển nguồn tin về tội phạm, các văn bản, quyết định tố tụng).

- Mô tả thứ hai được nêu tại các BL 02, 04, 14, 70, 71, 160 – 162, 164 - 166 (tài liệu bị tạm giữ, bị niêm phong, đề xuất của Trại giam, lời khai của người làm chứng Nguyễn Xuân T và Nguyễn Văn Th).

- Mô tả thứ ba được nêu tại các BL 07, 08, 10, 11, 12, 75, 76 (là lời khai của các nhân chứng Nguyễn Xuân T và Nguyễn Văn Th, Biên bản v/v phạm nhân không viết bản tường thuật, bản kiểm điểm, báo cáo của hai cán bộ Trại giam).

- Mô tả thứ ba được nêu tại BL 31 (đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị can).

Tài liệu được coi là vật chứng chỉ có một nhưng có đến bốn mô tả khác nhau về nội dung biểu ngữ ghi trên "vật chứng" cho thấy không có sự thống nhất giữa tài liệu thu thập được, văn bản tố tụng ban hành và tài liệu được coi là vật chứng của vụ án. Chẳng hạn, lời khai của hai người làm chứng và thậm chí của cả hai cả cán bộ Trại tạm giam cho thấy họ đã nhìn thấy hoặc thu thập được tài liệu ghi biểu ngữ khác với biểu ngữ nêu tại các văn bản tố tụng và biểu ngữ có trong hồ sơ vụ án. Điều này cho thấy các tài liệu như lời khai của người làm chứng, Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu, các báo cáo của các cán bộ Trại giam, các văn bản và quyết định tố tụng, kết luận giám định và biểu ngữ trong hồ sơ vụ án không những không phù hợp với nhau mà còn mâu thuẫn, phủ nhận nhau. Do đó, các tài liệu có do thu thập hoặc do ban hành trong quá trình giải quyết vụ án không đảm bảo tính khách quan, không thể sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ án.

3. Về lời khai của hai người làm chứng được cho là trực tiếp chứng kiến việc thu giữ vật chứng tại buồng giam của ông Trịnh Bá Phương.

Mỗi nhân chứng có hai biên bản ghi lời khai khác nhau tại cùng một thời điểm. BL 11 (gồm hai trang) và BL 81-82 (gồm ba trang) là hai biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Văn Th, cả hai biên bản đều thể hiện cán bộ Trại giam là ông Nguyễn Anh Q lấy lời khai của ông Nguyễn Văn Th bắt đầu từ 07 giờ 15 phút ngày 19/11/2024 và kết thúc vào 08 giờ 30 phút cùng ngày ; BL 12 (gồm hai trang) và BL 79 – 80 (gồm ba trang) là biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Xuân T, cả hai biên bản đều thể hiện cán bộ Trại giam là ông Nguyễn Anh Q lấy lời khai ông Nguyễn Xuân T bắt đầu từ 08 giờ 45 phút ngày 19/11/2024 và kết thúc vào 10 giờ 10 phút cùng ngày.

Việc cả hai nhân chứng đều có đến hai biên bản ghi lời khai khác nhau trong cùng một thời điểm, do cùng một cán bộ ghi là một sự bất thường không thể bỏ qua. Điều này cho thấy có dấu hiệu thiếu khách quan của cả người khai (hai nhân chứng) và người ghi lời khai (ông Nguyễn Anh Q cán bộ Trại giam). Do sự thiếu khách quan và mâu thuẫn này nên lời khai của ông Th và ông T không thể sử dụng làm căn cứ buộc tội đối với ông Trịnh Bá Phương. Rất tiếc, cả ông Th và ông T đều vắng mặt tại phiên tòa nên tôi không thể hỏi để làm rõ được lý do có sự bất thường này. Do đó, tôi đề nghị Hội đồng xét xử xác định ông Th và ông T không phải là người làm chứng trong vụ án.

4. Về biên bản thu giữ tài liệu, đồ vật được cho là vật chứng.

"Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu" (BL 02) không có chữ ký của ông Trịnh Bá Phương (người được cho là có tài liệu, đồ vật bị tạm giữ), thậm chí không có cả biên bản về việc ông Phương không ký vào "Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu". Xin lưu ý, tại BL 09 chỉ là Biên bản thể hiện phạm nhân không ký vào ba tài liệu là "Biên bản thu giữ đồ vật cấm" (BL 03) - liên qua đến cái dùi tự chế), "Biên bản niêm phong đồ vật cấm" (BL 05) - liên quan đến cái dùi tự chế, "Biên bản về việc vi phạm Nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân" (BL 07). Như vậy, tài liệu quan trọng nhất là "Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu" đã được thu thập trái với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên không thể coi là chứng cứ buộc tội ông Phương.

Ngoài ra, việc Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu (BL 02) không có chữ ký của ông Phương và lời khai của ông Phương về việc tài liệu được Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm sử dụng làm căn cứ buộc tội không được thu giữ tại buồng giam của mình là cơ sở cho thấy tài liệu được Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm xác định là vật chứng của vụ án không phải là vật chứng của vụ án vì không có các thuộc tính của chứng cứ.

5. Biên bản kiểm tra hiện trường (BL 93) có dấu hiệu vi phạm tố tụng.

Biên bản kiểm tra hiện trường (BL 93) ghi thành phần tham gia có ông Lê Văn C là Kiểm sát viên. Tuy nhiên, biên bản không có chữ ký của ông Lê Văn C. Việc này chỉ có thể xảy ra trong hai trường hợp, hoặc ông Lê Văn C có tham gia kiểm tra hiện trường nhưng không ký Biên bản hoặc ông Lê Văn C đã không tham gia vào việc kiểm tra hiện trường nhưng người lập biên bản vẫn ghi tên ông Lê Văn C vào thành phần tham gia. Và dù trong trường hợp nào đi chăng nữa thì cũng phản ánh việc những người tiến hành tố tụng liên quan đã không tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

6. Về kết luận giám định

Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Quảng Nam đã hai lần trưng cầu giám định chữ viết trên tài liệu được coi là vật chứng tại hai cơ quan khác nhau nhưng đều bị các cơ quan được trưng cầu giám định từ chối giám định vì lý do không đủ cơ sở để giám định do đó nếu không thể xác định được chữ viết trên tài liệu cần giám định là của ông Trịnh Bá Phương thì việc xác định nội dung sẽ trở thành không có giá trị.

Về tính hợp pháp và nội dung của Kết luận giám định ngày 16/01/2025 của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Quảng Nam liên quan đến nội dung của tài liệu được coi là vật chứng trong vụ án thì các luật sư đã bào chữa cho ông Phương tại phiên tòa sơ thẩm đã phân tích đầy đủ, kính mong Hội đồng xét xử quan tâm.

7. Về việc tiếp cận video được cho là liên quan đến vụ án

Quá trình sao chụp hồ sơ vụ án, tôi đã không được tiếp cận video được cho là ghi lại toàn bộ quá trình kiểm tra buồng giam nơi ông Phương ở vào ngày 18/11/2024 với lý do (do Thư ký phiên tòa đưa ra) : Đĩa chứa video đang niêm phong và chưa được mở ở phiên tòa sơ thẩm nên chưa được tiếp cận, việc mở niêm phong để Luật sư tiếp cận sẽ do Hội đồng xét xử quyết định tại phiên tòa. Chính vì lý do đó nên tôi đã có đơn đề nghị trình chiếu video tại phiên tòa phúc thẩm gửi đến Hội đồng xét xử trước khi phiên tòa diễn ra. Nhiều văn bản tố tụng cho rằng video ngày 18/11/2024 ghi lại toàn bộ quá trình kiểm tra buồng giam ông Phương, tức là ghi lại quá trình thu thập tài liệu là vật chứng của vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, ông Phương khẳng định việc kiểm tra buồng giam ngày 18/11/2024 không thu giữ được tài liệu là vật chứng như kết luận tại Bản án sơ thẩm. Như vậy, video ngày 18/11/2024 là chứng cứ của vụ án, nó chứng minh tài liệu được coi là vật chứng của vụ án có được thu thập tại buồng giam ông Phương hay không. Vì video này là chứng cứ của vụ án nên phải được những người tiến hành tố tụng (gồm các thẩm phán và Kiểm sát viên), người bào chữa và bị cáo khai thác phục vụ cho công việc của mỗi người. Nó có thể là chứng cứ buộc tội hoặc chứng cứ gỡ tội. Sự tồn tại của video này trong hồ sơ vụ án nhưng không được khai thác cho hoạt động chứng minh thì sẽ làm mất đi giá trị của nó. Vì vậy, một lần nữa tôi và thân chủ của tôi đề nghị Hội đồng xét xử công khai chứng cứ này bằng việc trình chiếu tại phiên tòa.

Kiến nghị về việc giải quyết vụ án : Từ những luận điểm đã nêu cho thấy, đối với những tài liệu đã được công khai thì không có bất kỳ căn cứ nào để chứng minh ông Trịnh Bá Phương phạm tội, chỉ còn dữ liệu điện tử duy nhất mà ngay cả Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, Luật sư và bị cáo chưa được tiếp cận là video ghi lại quá trình kiểm tra buồng giam ngày 18/11/2024. Tôi đề nghị Hội đồng xét xử mở niêm phong, công khai video này để mọi người cùng kiểm tra, đánh giá. Còn nếu video không được công khai thì đề nghị Hội đồng xét xử xác định không có đủ căn cứ buộc tội đối với ông Trịnh Bá Phương. Trên cơ sở đó, chấp nhận kháng cáo, tuyên ông Trịnh Bá Phương không phạm tội và hủy tòa bộ Bản án sơ thẩm.

Trịnh Thị Thảo

(em gái của anh Trịnh Bá Phương)

Nguồn : fb. trinhthithao86

https://www.facebook.com/trinhthithao86/

P/s : Sau khi trình bày luật cứ xong, vị Kiểm sát viên đã không có bất kỳ tranh luận nào đối với những luận điểm của tôi, video mà tôi đề xuất đã không được trình chiếu tại phiên tòa, Hội đồng xét xử vào nghị án và sau đó tuyên án.