Iran bị BRICS bỏ rơi trong cuộc chiến với Mỹ và Do Thái (Yun Sun , Nguyễn Thị Kim Phụng , Anh Vũ , Hải Minh , Trúc Phương)


Tại sao Trung Quốc sẽ không giúp Iran ?

Yun Sun, Viên Đăng Huy, Nghiên cứu quốc tế, 10/03/2026

Trung Quốc đang quan sát vô cùng cẩn trọng khi Mỹ và Israel oanh tạc Iran. Suy cho cùng, Bắc Kinh chính là đối tác quan trọng nhất của Tehran. Hai quốc gia này đã trở nên gần gũi nhờ lịch sử và những mục tiêu chung : cả hai đều truy nguyên nguồn gốc từ các nền văn minh cổ đại hàng đầu ngoài phương Tây, và ngày nay cả hai đều phản đối một trật tự toàn cầu do phương Tây thống trị. An ninh năng lượng của Trung Quốc cũng gắn liền với mối quan hệ với Iran. Hơn 55% tổng lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc trong năm 2025 đến từ Trung Đông (khoảng 13% đến từ chính Iran), phần lớn trong số đó phải đi qua eo biển Hormuz, tuyến đường thủy hẹp giáp ranh với Iran. Do chiến dịch ném bom gần đây sẽ làm gián đoạn nguồn cung dầu của Iran và có thể làm suy yếu việc sản xuất dầu tại các quốc gia vùng Vịnh, và bởi nó có khả năng đe dọa khả năng vận chuyển dầu từ khu vực này của Bắc Kinh, một số nhà phân tích đã suy đoán rằng Bắc Kinh sẽ ra tay hỗ trợ Tehran—hoặc bằng can thiệp quân sự trực tiếp hoặc ít nhất là hỗ trợ vật chất như thiết bị và linh kiện lưỡng dụng, tương tự như những gì Trung Quốc đã cung cấp cho Nga trong cuộc chiến Ukraine.

Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian gặp gỡ lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bắc Kinh, tháng 9/2025 (Trang web của Phủ Tổng thống Iran / Reuters)

Nhưng mặc dù Trung Quốc đang lo ngại, họ khó có khả năng can dự sâu. Sau cuộc chiến kéo dài 12 ngày của Israel chống lại Iran vào tháng 6 năm 2025, Trung Quốc chỉ đưa ra những phát ngôn ngoại giao mang tính khuôn mẫu nhằm ủng hộ nước Cộng hòa Hồi giáo. Tương tự, trong các nhận định tại buổi họp báo chính thức của Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuần này, ngôn từ gay gắt nhất mà bộ này sẵn sàng sử dụng là lên án đối với vụ ám sát lãnh tụ tối cao của Iran, Ayatollah Ali Khamenei, thay vì lên án toàn bộ chiến dịch chống lại Iran. Việc Trung Quốc kêu gọi "các bên liên quan chấm dứt các chiến dịch quân sự"—một yêu cầu bao gồm cả Iran cũng như Mỹ và Israel—và sự ủng hộ mạnh mẽ của họ đối với việc tôn trọng "chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ" của các quốc gia vùng Vịnh cho thấy Trung Quốc đang cố gắng giữ mối quan hệ tốt đẹp với các nước trong vùng Vịnh cũng như với Iran.

Cách tiếp cận đứng ngoài cuộc đối với Iran này đã hình thành từ lâu. Kể từ ngày 7 tháng 10 năm 2023, khi Hamas tấn công Israel, Bắc Kinh ngày càng trở nên vỡ mộng về năng lực và uy tín của Tehran với tư cách là một cường quốc khu vực. Các nhà chiến lược Trung Quốc cũng mất niềm tin vì những gì họ coi là xu hướng của Iran trong việc đầu hàng trước các yêu sách của phương Tây, thay vì đánh trả, điều thể hiện qua mong muốn kiên trì đàm phán với Washington. Cuối cùng, Bắc Kinh không xem việc thay đổi chế độ ở Iran là kịch bản tồi tệ nhất. Trung Quốc sẵn sàng làm việc với bất kỳ ban lãnh đạo nào xuất hiện sau các cuộc không kích miễn là chính quyền đó bảo vệ dòng chảy dầu mỏ và ưu tiên các lợi ích kinh tế chung. Chỉ khi những lợi ích này bị đe dọa, hoặc nếu một cuộc chiến tiêu hao kéo dài làm gián đoạn việc vận chuyển dầu qua eo biển Hormuz, Bắc Kinh mới phải cân nhắc lại vị thế đứng ngoài của mình và phản ứng mạnh mẽ hơn.

Thất sủng

Chiến lược đối với Iran của Trung Quốc từ lâu đã dựa trên giả định rằng quốc gia này có thể là một bàn đạp cho các lợi ích của Bắc Kinh ở Trung Đông. Vào năm 2021, để nhấn mạnh sự hợp tác ngày càng tăng, hai nước đã ký kết một hiệp ước hợp tác chiến lược kéo dài 25 năm trị giá 400 tỷ USD nhằm củng cố các mối quan hệ kinh tế và an ninh. Nhưng rất ít dự án được dự liệu trong hiệp ước thành hiện thực do Tehran lo ngại rằng ảnh hưởng của Trung Quốc sẽ làm tổn hại đến chủ quyền và nền độc lập của Iran, đồng thời Bắc Kinh cũng trở nên thất vọng trước sự thiếu nhất quán và không đáng tin cậy của Tehran. Quan trọng nhất, Trung Quốc đã xác định rằng quyền lực và uy tín cách mạng của Iran đều bị thổi phồng. Iran có dân số gấp mười lần Israel và gấp ba lần Saudi Arabia, nhưng GDP của nước này lại thấp hơn 90% so với Israel và chỉ bằng 25% so với Saudi Arabia. Theo đánh giá của Bắc Kinh, Iran đã sử dụng các cuộc chiến ủy nhiệm và chiến tranh bất đối xứng để răn đe đối thủ, điều này làm thổi phồng năng lực và che đậy những điểm yếu nội tại của họ.

Trung Quốc cũng nhìn thấy sự không ăn nhập giữa mục tiêu chiến lược lãnh đạo một cuộc cách mạng Hồi giáo của Iran và các điều kiện cần thiết để đạt được nó. Theo bình luận công khai và phân tích của Ngưu Tân Xuân, Giám đốc điều hành Viện Nghiên cứu Trung Quốc-Ả Rập tại Đại học Ninh Hạ, hệ tư tưởng Hồi giáo của chế độ Iran ngăn cản các thỏa hiệp và nhượng bộ đối với Mỹ trong các vấn đề chính trị và hạt nhân. Nhưng do các lệnh trừng phạt gây tê liệt, một mối quan hệ tốt hơn với Mỹ là điều kiện tiên quyết cơ bản để Iran cải thiện nền kinh tế, phát triển sức mạnh và giảm bớt áp lực bên ngoài đang cản trở cải cách trong nước. Iran do đó bị mắc kẹt giữa sự phản đối Mỹ và nhu cầu đạt được một thỏa thuận với Washington, giữa nguồn gốc bảo thủ về mặt thần học và nhu cầu cải cách.

Hơn nữa, theo quan điểm của nhiều nhà phân tích Trung Quốc, Iran đã không thể hiện đủ quyết tâm để trực tiếp đối đầu với kẻ thù. Chẳng hạn, khi Mỹ ám sát Qasem Soleimani, tướng quân đội hàng đầu của Iran vào năm 2020, và khi Israel tấn công đại sứ quán Iran tại Syria vào năm 2024, sự trả đũa của Tehran đối với các căn cứ của Mỹ ở Iraq và Israel bị coi là không tương xứng. Nhiều quan sát viên Trung Quốc cũng nhận thấy phản ứng của Iran đối với cuộc chiến 12 ngày, bao gồm cả việc đưa ra cảnh báo trước cho Qatar và Mỹ trước khi phóng tên lửa, là yếu ớt và kém hiệu quả một cách quá mức. Cư dân mạng Trung Quốc đã chế giễu các phản ứng của Iran là "trả đũa cho có lệ". Sự bi quan về số phận của Iran hiện đã ăn sâu vào các đánh giá của Trung Quốc về Trung Đông : trong cuộc khủng hoảng hiện tại, những người định hướng dư luận Trung Quốc như học giả nổi tiếng Hồ Tích Tiến đã than thở về vũng lầy mà Iran và người dân nước này đang phải đối mặt và đổ lỗi cho Tehran đã dẫn dắt đất nước rơi vào đó.

Cách đối xử của Iran với các lực lượng ủy nhiệm của mình càng làm suy yếu niềm tin của Trung Quốc. Kể từ năm 2023, các nhóm này đã bị nhắm mục tiêu và xóa sổ lần lượt từng nhóm một. Chẳng hạn, lực lượng Israel đã tiêu diệt Hamas và Hezbollah, nhưng Iran đã không cung cấp được sự hỗ trợ có ý nghĩa hoặc trả đũa hiệu quả. Bắc Kinh đã theo dõi trong sự ngỡ ngàng vào tháng 12 năm 2024 khi Phó Tổng thống Iran Mohammad Zarif phủ nhận mối quan hệ của quốc gia này với các nhóm ủy nhiệm trong khu vực—cái gọi là trục kháng chiến—và tuyên bố rằng Iran không có quyền kiểm soát đối với hành động của họ. Sau đó, vào tháng 4 năm 2025, Iran đã sơ tán quân nhân của mình khỏi Yemen giữa lúc chiến dịch ném bom của Mỹ đang diễn ra, điều này đồng nghĩa với việc bỏ rơi các đồng minh Houthi của mình để tránh làm tăng căng thẳng với Washington và nuôi hy vọng nối lại các cuộc đàm phán với Mỹ.

Bắc Kinh cũng thất vọng trước những thất bại trong nước của chế độ Iran. Mặc dù truyền thông nhà nước Trung Quốc kiềm chế việc công khai chỉ trích chế độ này, nhưng cộng đồng chính sách Trung Quốc tập trung vào Trung Đông hoàn toàn nhìn nhận rõ ràng về những quyết định sai lầm, tình trạng tham nhũng tràn lan và quản trị kém cỏi ở Tehran. Khả năng Israel thâm nhập vào bộ máy an ninh Iran, điều đã cho phép họ nhắm mục tiêu hiệu quả vào các lãnh đạo quân sự và các nhà khoa học hạt nhân của Iran trong cuộc chiến 12 ngày, cho thấy nhiều quan chức Iran không tin tưởng vào hệ thống của họ và sẵn sàng bán đứng đất nước. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc nghi ngờ về khả năng tồn tại của một nhà nước Iran mà chính các quan chức của họ cũng không còn niềm tin.

Sự vỡ mộng của Trung Quốc đối với các nhà lãnh đạo Iran đồng nghĩa với việc Bắc Kinh vốn không phản đối sự thay đổi chế độ. Bởi ưu tiên của họ là đảm bảo Iran vẫn là một đối tác kinh tế khả thi, họ không quá bận tâm về việc ai cầm quyền. Trên thực tế, nếu các cuộc tấn công của Mỹ và Israel hạn chế được các tham vọng quân sự bất hảo của Iran và quốc gia này định vị lại mình như một cường quốc kinh tế ở Trung Đông, thì đó có thể là một tương lai mà Trung Quốc hoan nghênh.

Bắc Kinh cũng khó có khả năng cố gắng hậu thuẫn cho chế độ Iran vì mối quan hệ của Trung Quốc với Mỹ. Tổng thống Donald Trump và nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình dự kiến sẽ gặp nhau vào cuối tháng 3—một cuộc gặp mang theo triển vọng về một thỏa thuận lớn tiềm năng giữa Mỹ và Trung Quốc có thể dẫn đến một sự hạ nhiệt thực sự sau tám năm cạnh tranh giữa các cường quốc đầy mệt mỏi. Bắc Kinh không muốn một cuộc chiến ở Trung Đông làm chệch hướng nỗ lực hợp tác với Trump.

Thay đổi toan tính

Mối quan tâm của Trung Quốc đối với Iran trước hết là về an ninh năng lượng. Mặc dù Trung Quốc đã đa dạng hóa nguồn cung năng lượng và đầu tư mạnh mẽ vào than, năng lượng mặt trời, gió và hạt nhân—năng lượng tái tạo đã vượt qua dầu mỏ để trở thành nguồn tiêu thụ năng lượng lớn thứ hai của Trung Quốc sau than đá vào năm 2025—dầu mỏ vẫn đóng một vai trò không thể thay thế trong nền kinh tế của nước này. Trung Quốc vẫn dựa vào dầu nhập khẩu để cung cấp nhiên liệu cho máy bay phản lực, vận hành các tàu biển và sản xuất hóa dầu. Trung Quốc được ước tính có từ 1,3 đến 1,4 tỷ thùng dầu dự trữ, tương đương khoảng 30% lượng nhập khẩu của năm 2025, đủ để chịu đựng sự gián đoạn vận chuyển ngắn hạn từ Trung Đông nhưng không thể kéo dài.

Một điều Trung Quốc lo lắng—và là điều có thể làm thay đổi các tính toán của Bắc Kinh và buộc họ phải rời khỏi vị thế đứng ngoài cuộc—là việc đóng cửa eo biển Hormuz, hành động sẽ cắt đứt hơn một nửa lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc. Các giám đốc điều hành dầu mỏ và các chuyên gia Trung Đông của Trung Quốc từ lâu đã bác bỏ khả năng xung đột khu vực dẫn đến việc đóng cửa lâu dài các tuyến đường vận tải biển. Họ lập luận rằng nếu chiến tranh ở Trung Đông làm gián đoạn việc vận chuyển dầu qua eo biển, nó sẽ gây ra một cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu và một giải pháp tập thể sẽ nhanh chóng xuất hiện. Chẳng hạn, trong cuộc chiến 12 ngày, các chuyên gia Trung Quốc đã bác bỏ ý định đóng cửa eo biển Hormuz của Iran vì họ tin rằng điều đó sẽ gây thù chuốc oán với toàn bộ vùng Vịnh và cắt đứt doanh thu của chính Iran. Bắc Kinh đã sử dụng lập luận này để bác bỏ những lời kêu gọi trong nước—và sự suy đoán của phương Tây—về việc có thể xây dựng sự hiện diện quân sự của Trung Quốc trong khu vực.

Giả định rằng các nhà sản xuất và tiêu dùng năng lượng toàn cầu sẽ không để khu vực này tan rã hiện đang bị đưa ra thử thách. Bắc Kinh đang gây sức ép với Tehran để giữ cho eo biển Hormuz mở cửa và tránh thực hiện bất kỳ biện pháp nào có thể làm gián đoạn việc vận chuyển năng lượng. Nếu nguồn cung cấp dầu của Trung Quốc từ khu vực này bị đe dọa, họ có thể chuyển sang các nhà cung cấp thay thế, đặc biệt là Nga, hiện là nguồn cung cấp hơn 17% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc. Nhưng Bắc Kinh không thoải mái với việc quá phụ thuộc vào bất kỳ nhà cung cấp đơn lẻ nào vì họ lo sợ một sự gián đoạn lớn khác đối với nguồn cung của mình.

Một thử thách thậm chí còn lớn hơn đối với Trung Quốc sẽ là một cuộc chiến kéo dài. Nếu chế độ Iran chịu đựng được sự oanh tạc của Mỹ và Israel và gây ra thiệt hại thực sự trong các cuộc phản công của mình, nó sẽ tạo ra một tình thế tiến thoái lưỡng nan cho Bắc Kinh. Nếu Tehran từ bỏ xu hướng đầu hàng, chiến đấu trở lại và sống sót, Trung Quốc sẽ khó lòng đứng sang một bên và từ chối hỗ trợ cho chế độ này. Iran vẫn là đối tác khu vực then chốt của Trung Quốc. Việc từ chối cung cấp hỗ trợ ngay cả khi Iran thể hiện quyết tâm và khả năng chịu đựng các cuộc tấn công sẽ bộc lộ sự thiếu cam kết của Trung Quốc. Nếu Trung Quốc tham gia, sự hỗ trợ của họ dành cho Tehran có thể phản ánh những gì họ đã làm để giúp Nga trong cuộc chiến Ukraine : cung cấp vật tư công nghệ và linh kiện lưỡng dụng, chẳng hạn như drone ; thu mua dầu của Iran ; và cung cấp hỗ trợ công nghệ để xây dựng ngành công nghiệp quốc phòng địa phương của Iran.

Chế độ này cầm cự càng lâu, Trung Quốc sẽ càng phải vào cuộc và hỗ trợ nó, điều có thể kéo dài cuộc chiến hơn nữa. Nhưng nếu chế độ sụp đổ nhanh chóng như chính quyền Bashar al-Assad ở Syria, hoặc tình hình nhanh chóng ổn định như những gì đã diễn ra sau khi Nicolás Maduro của Venezuela bị phế truất, Bắc Kinh khó có khả năng bận tâm về kết quả đó. Trung Quốc đã mất niềm tin vào ban lãnh đạo của Iran. Điều quan trọng bây giờ là tìm cách làm việc với những người nắm giữ quyền lực tiếp theo để giữ cho dòng dầu từ Trung Đông tiếp tục chảy.

Yun Sun

Nguyên tác : "Why China Won’t Help Iran", Foreign Affairs, 05/03/2026

Viên Đăng Huy biên dịch

Nguồn : Nghiên cứu quốc tế, 10/03/2026

Yun Sun là Giám đốc Chương trình Trung Quốc tại Trung tâm Stimson.

*****************************

Chiến tranh Trung Đông : Vì sao Ấn Độ im hơi lặng tiếng ?

Anh Vũ, RFI, 10/03/2026

Kể từ khi các cuộc không kích nhằm vào Iran bắt đầu, chính phủ của Thủ tướng Narendra Modi vẫn giữ thái độ im lặng. New Delhi giống như đang bơi giữa hai làn nước: không công khai ủng hộ Mỹ và Israel, hai nước mà Ấn Độ đã xích lại gần trong những năm gần đây, nhưng cũng không quay lưng với đối tác Iran. Lập trường này đang đặt nguyên tắc trung lập lâu nay của Ấn Độ tại Trung Đông vào thử thách gay go.

Thủ tướng Israel Benyamin Netanyahu (phải) và đồng nhiệm Ấn Độ Narendra Modi trong cuộc họp báo tại Jerusalem, Israel ngày 26/02/2026. AP - Gil Cohen Magen

Thủ tướng Ấn Độ rút vào im lặng, gần như không đưa ra bất kỳ phát biểu nào về các cuộc tấn công của Mỹ và Israel nhắm vào Iran, cũng như về các đòn đáp trả của Tehran tại Trung Đông. Ông cũng không đề cập đến việc một tàu ngầm Mỹ đánh chìm chiến hạm IRIS Dena của Iran, con tàu từng được New Delhi mời tham gia các cuộc tập trận đa phương ở vịnh Bengal, nhằm khẳng định cam kết đối với tự do hàng hải và luật pháp quốc tế trên biển.

Phải đến một ngày sau vụ Mỹ tấn công tàu chiến của Iran khiến ít nhất 84 người thiệt mạng vào ngày 4/3, ông Narendra Modi mới lên tiếng ngắn gọn rằng "không vấn đề nào có thể được giải quyết chỉ bằng xung đột quân sự".

Sự im lặng này nhanh chóng vấp phải chỉ trích, đặc biệt là từ Mallikarjun Kharge, chủ tịch Đảng Quốc Đại, đảng đối lập chính. Ông cáo buộc thủ tướng Modi đã "từ bỏ một cách vô trách nhiệm các lợi ích chiến lược và quốc gia của Ấn Độ" khi không lên tiếng bảo vệ các vị khách của nước mình.

Trong nhiều thập niên qua, New Delhi vẫn duy trì được quan hệ song song với Israel, Iran cũng như với các tiểu vương và vương quốc vùng Vịnh, đồng thời tránh can dự vào các xung đột khu vực. Tuy nhiên, phe đối lập hiện lo ngại sự thụ động của chính phủ có thể làm suy yếu "tự chủ chiến lược", nền tảng chính sách đối ngoại của Ấn Độ.

Nhà phân tích S.N. Sahu, cựu phát ngôn viên của tổng thống Ấn Độ Kocheril Raman Narayanan (1997–2002), nhận xét trên tờ The Wire : "Khi Nga tấn công Ukraine, ông Narendra Modi từng nói với tổng thống Nga rằng chúng ta không còn sống trong thời đại chiến tranh nữa. Nhưng ông lại không gửi thông điệp tương tự tới Donald Trump và thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu sau cuộc tấn công nhằm vào Iran".

Nhiều nhà quan sát lưu ý rằng Ấn Độ đã rời xa lập trường trung lập truyền thống khi ký kết "quan hệ đối tác chiến lược đặc biệt" với Israel trong chuyến thăm Tel Aviv của ông Modi ngày 25 và 26/02.

Chuyên gia về chính sách đối ngoại Ấn Độ Nicolas Blarel, giảng viên tại Viện Khoa học Chính trị thuộc Đại học Leiden (Hà Lan), giải thích với RFI : "Đây là chuyện không nhỏ. Narendra Modi là lãnh đạo đầu tiên của một quốc gia thuộc ‘Nam bán cầu’ đến Israel kể từ sau ngày 7/10/2023 (ngày Hamas tấn công khủng bố Israel). Đó là các thách thức về quân sự, thương mại và công nghệ".

Cắt giảm mạnh quan hệ với Iran

Qua việc góp phần phá thế cô lập ngoại giao của Israel, Ấn Độ cũng muốn gửi một tín hiệu chính trị mạnh mẽ tới chính quyền Donald Trump, trong bối cảnh mà, không như Ấn Độ mong đợi, Washington trong những tháng gần đây đã xích lại gần Pakistan. Đó cũng là cách để New Delhi hạ nhiệt căng thẳng với Mỹ, quốc gia đã từng trừng phạt Ấn Độ do chính sách bảo hộ thương mại và do việc mua dầu từ Nga.

Sau các cuộc đàm phán căng thẳng, ngày 2/2, Ấn Độ và Mỹ đã đạt được một thỏa thuận thương mại được cho là bất lợi cho New Delhi : Washington đồng ý giảm thuế nhập khẩu từ 50% xuống 18%, đổi lại Ấn Độ chấm dứt hoàn toàn việc mua dầu thô của Nga.

Tuy nhiên, tình hình nhanh chóng thay đổi khi eo biển Hormuz, tuyến vận tải chiến lược của thương mại toàn cầu, bị phong tỏa ngay sau các cuộc không kích Mỹ–Israel nhằm vào Iran bắt đầu ngày 28/2. Việc đình trệ hoạt động tại tuyến đường biển trọng yếu này đã giáng đòn mạnh vào Ấn Độ, quốc gia nhập khẩu dầu lớn thứ ba thế giới, vốn phụ thuộc vào nguồn cung dầu mỏ, khí hóa lỏng từ Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Iraq, Saudi Arabia và Qatar.

Trong bối cảnh New Delhi rơi vào thế khó, ngày 5/3 Washington đã đồng ý cho Ấn Độ một ngoại lệ trong 30 ngày được tiếp tục mua dầu Nga. Quyết định do Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent công bố, nhằm giảm áp lực trước mắt cho các nhà máy lọc dầu Ấn Độ, nhưng nhiều khả năng sẽ đi kèm các điều kiện. "Ấn Độ là đối tác thiết yếu của Mỹ và chúng tôi tin rằng New Delhi sẽ mua thêm dầu của Mỹ", ông Scott Bessent nhấn mạnh.

Hiện không công khai ủng hộ Mỹ–Israel, nhưng Ấn Độ cũng chưa từ bỏ Iran, quốc gia từng là nhà cung cấp dầu lớn nhất cho New Delhi trong thập niên 1990, đồng thời là đối tác đầu tư phát triển cảng Chabahar của Iran bên bờ Biển Oman.

Tuy nhiên, trong khoảng một thập niên qua, chính phủ Modi đã cắt giảm mạnh quan hệ với Tehran, đặc biệt trong lĩnh vực nhập khẩu dầu. Để chứng minh sự bảo đảm với Washington sau thỏa thuận thương mại ngày 2/2, Ấn Độ thậm chí đã bắt giữ ba tàu chở dầu treo cờ Iran bị Mỹ cáo buộc buôn lậu dầu. Vài ngày sau, chính phủ Ấn Độ tuyên bố trước Quốc hội rằng họ đã chấm dứt cam kết tham gia dự án cảng Chabahar.

"Trò chơi ảnh hưởng"

Một cuộc phong tỏa kéo dài tại eo biển Hormuz có thể làm trầm trọng thêm thâm hụt ngân sách và đẩy lạm phát tăng cao tại Ấn Độ. Đồng rupee hiện là đồng tiền Châu Á giảm giá mạnh nhất trong năm nay, đã mất 9% giá trị so với đô la Mỹ trong hai năm qua.

Xung đột với Iran cũng đe dọa xuất khẩu của Ấn Độ. Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất là thị trường nhập khẩu thiết bị điện tử lớn thứ hai của nước này, chỉ sau Mỹ. Ngoài ra, khoảng 10 triệu lao động Ấn Độ đang làm việc tại vùng Vịnh, gửi một lượng kiều hối đáng kể về nước. Nguồn tiền này có thể bị cạn đi nếu xung đột leo thang. Bị bất ngờ trước diễn biến tình hình, New Delhi chưa kịp tổ chức sơ tán công dân.

Theo Nicolas Blarel, Ấn Độ vẫn đang ở thế phản ứng hơn là chủ động : "Dù có quan hệ đối tác với Israel, Iran, UAE hay Saudi Arabia, Ấn Độ vẫn chưa trở thành một tác nhân có ảnh hưởng thực sự trong khu vực. Từ ba năm qua, nước này nhiều lần tự cho mình có thể đóng vai trò trung gian hòa giải trong các cuộc khủng hoảng khu vực, nhưng chưa có bước đi cụ thể".

Nhà chính trị học người Pháp Christophe Jaffrelot, chuyên gia về tiểu lục địa Ấn Độ, nhận định trên tạp chí Le Grand Continent : "Những diễn biến của chiến tranh này phản ánh một cuộc chơi giành ảnh hưởng. Ấn Độ tìm cách tận dụng Iran để tạo sức ép với Pakistan, tương tự cách họ cố gắng làm với Afghanistan".

Theo ông, nỗi lo của Pakistan trước khả năng phe Taliban Afghanistan xích lại gần New Delhi phần nào lý giải các cuộc không kích tại Afghanistan trong những tháng gần đây. Ban đầu Islamabad hoan nghênh việc Mỹ rút quân khỏi Afghanistan theo lệnh của Joe Biden năm 2021 và tiếp đó là sự trở lại của Taliban, nhưng chính quyền Pakistan lại góp phần củng cố Taliban để rồi lực lượng trở thành đối thủ của họ.

Sự im lặng của thủ tướng Narendra Modi có thể cũng là một chiến lược "chờ thời", nhằm giữ được phạm vi hành động cho Ấn Độ, trong giai đoạn bàn cờ địa chính trị mới đang hình thành tại Trung Đông, Trung Á và Nam Á.

(Theo france24.com)

Anh Vũ

Nguồn : RFI, 10/03/2026

*****************************

Chiến sự Iran : Vì sao Nga và Trung Quốc dè dặt ?

Hải Minh, Tuổi Trẻ online, 08/03/2026

Nga và Trung Quốc – hai đồng minh hoặc ít ra là những cường quốc thân cận nhất với Iran – cho tới nay đã không có phản ứng thực tế nào đủ mạnh sau khi Iran bị Israel và Mỹ không kích dồn dập suốt một tuần qua.

Người dân cầm chân dung cố lãnh tụ tối cao Iran Ali Khamenei khi tham gia cuộc biểu tình chống Mỹ - Israel tại Tehran vào ngày 6/3 - Ảnh : AFP

Khi Tổng thống Nga Vladimir Putin được hỏi tại Diễn đàn Kinh tế St. Petersburg vào tháng 6/2025 rằng Nga sẽ làm gì nếu Mỹ hoặc Israel ám sát lãnh đạo tối cao của Iran, ông đã từ chối trả lời. "Tôi thậm chí không muốn thảo luận về khả năng này" - nhà lãnh đạo Nga nêu. Tám tháng sau, kịch bản đó đã trở thành hiện thực.

Nga - Iran không phải liên minh phòng thủ

Sau khi Iran bị tấn công, phản ứng của Nga là một tuyên bố của Bộ Ngoại giao lên án "các hành động xâm lược vũ trang vô cớ" và bốn cuộc điện thoại cho các nhà lãnh đạo vùng Vịnh đề nghị làm trung gian hòa giải.

Vào tháng 4/2025, phát biểu trước Duma Quốc gia để làm rõ bản chất của hiệp ước đối tác chiến lược toàn diện mà Nga và Iran vừa chính thức phê chuẩn, Thứ trưởng Ngoại giao Nga Andrei Rudenko nhấn mạnh đây không phải là một hiệp ước phòng thủ chung, đồng nghĩa nếu Iran bị tấn công, Nga không có nghĩa vụ phải cung cấp hỗ trợ quân sự.

Trên thực tế cả Moskva và Tehran đều chưa bao giờ sẵn sàng "đổ máu" vì nhau. Mối quan hệ song phương chỉ thực sự tăng tốc sau năm 2022 và được chính thức hóa vào năm 2025 với ý hiểu ngầm là mỗi bên sẽ giúp bên kia đứng vững lâu hơn theo các điều kiện riêng của mình, chia sẻ công nghệ, tình báo và kinh nghiệm vận hành, nếu không phải chịu rủi ro từ một cam kết liên minh chính thức. Sắp xếp này có logic hợp lý với cả hai phía.

Ông Nikita Smagin, chuyên gia về Nga và Trung Đông, nói với Đài DW của Đức rằng Moskva và Tehran đã và đang hợp tác trong một số dự án kinh tế quan trọng.

"Hành lang vận tải Bắc - Nam là một trong số đó - ông Smagin nói - Đặc biệt là kể từ khi Nga bị cắt đứt khỏi các tuyến đường trung chuyển truyền thống sau khi bắt đầu cuộc chiến toàn diện ở Ukraine vào tháng 2/2022".

Iran cũng đóng vai trò quan trọng với Nga về mặt quân sự, đặc biệt là việc cung cấp thiết bị bay không người lái (UAV) Shahed kể từ năm 2023 - loại vũ khí đã cơ bản định hình lại cuộc chiến Ukraine.

Theo chuyên gia Smagin, Nga khó can thiệp tích cực vào cuộc chiến đang diễn ra ở Iran, một phần quan trọng còn do thỏa thuận không tấn công lẫn nhau, dù chỉ là không chính thức, giữa Nga với Israel.

Những tín hiệu về việc Moskva không thể hoặc không muốn can thiệp trực tiếp ở Trung Đông đã trở nên rõ ràng vào tháng 12/2024, khi phiến quân Syria lật đổ chính quyền Bashar al-Assad, đồng minh lâu năm của Nga.

Ngoài quan hệ với Israel, Nga còn nhiều lợi ích khác trong khu vực ngoài Iran, ví dụ như nhu cầu phối hợp với OPEC về giá dầu.

Đó là chưa kể trong khi Nga có thể không còn mặn mà hợp tác với phương Tây để hạn chế phổ biến vũ khí hạt nhân, họ cũng chưa bao giờ muốn Iran đạt ngưỡng hạt nhân cấp độ vũ khí do đây là đòn bẩy rất quan trọng với Moskva trong mối quan hệ song phương.

Trung Quốc lặng lẽ quan sát

Trung Quốc cũng lên án Mỹ và tuyên bố cử một người trung gian hòa giải sang Trung Đông, nhưng tất cả cũng chỉ có vậy. Bắc Kinh và Tehran cũng là đối tác chiến lược toàn diện, với cơ sở là thỏa thuận hợp tác 25 năm ký năm 2021.

Nhưng giống như trường hợp Venezuela hồi tháng 1, Trung Quốc đã không cung cấp hỗ trợ an ninh nào cho Iran hiện tại.

Ông Hu Bo, Giám đốc tư vấn chiến lược ở Bắc Kinh, bình luận trên tờ South China Morning Post rằng mối quan hệ quân sự Trung Quốc - Iran "thấp hơn nhiều so với những gì thế giới bên ngoài giả định".

"Mối liên kết an ninh giữa Trung Quốc và Iran thấp hơn nhiều so với giữa Iran và Nga, Trung Quốc và Nga, và cũng thấp hơn nhiều so với đồn đoán của phương Tây", ông Hu nêu.

Trung Quốc và Iran thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1971. Năm 2016, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nâng tầm quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện trong chuyến thăm tới Tehran.

Iran kể từ đó đã gia nhập Tổ chức Hợp tác Thượng Hải và khối BRICS. Tuy nhiên, các tổ chức đa phương này còn xa mới ở tầm một liên minh phòng thủ tập thể kiểu NATO do không hề có các nghĩa vụ an ninh ràng buộc.

Khác với Mỹ, Trung Quốc không có một mạng lưới liên minh quân sự toàn cầu. Đồng minh hiệp ước chính thức duy nhất của họ là Triều Tiên, theo Hiệp ước Hữu nghị, Hợp tác và Tương trợ Trung - Triều ký năm 1961.

Các nhà phân tích cũng cho rằng Bắc Kinh hiện phải lưu tâm đến các ưu tiên chiến lược rộng lớn hơn, đặc biệt là việc xây dựng mối quan hệ ít ra là ổn định hơn với Washington trước cuộc gặp dự kiến vào cuối tháng này giữa Chủ tịch Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Donald Trump.

Thương mại, các hạn chế công nghệ và Đài Loan đang là ưu tiên hàng đầu trong chương trình nghị sự của Bắc Kinh. Iran cũng có một số lợi ích quan trọng với Trung Quốc như vai trò nguồn cung cấp năng lượng và mắt xích thiết yếu trong sáng kiến Vành đai - Con đường, nhưng không phải là ưu tiên cấp bách hay sống còn vào lúc này.

Lợi ích của Nga, Trung Quốc

Thậm chí có thể lập luận rằng giao tranh sẽ phân tán hỏa lực và năng lực viện trợ của Mỹ - điều có lợi cho Nga trong cuộc chiến ở Ukraine. Bên cạnh đó, giá dầu sẽ duy trì ở mức cao, mang lại lợi ích trực tiếp cho ngân khố Nga.

Như vậy có thể tóm tắt vị thế của Nga trong cuộc chiến Iran như là một đối tác hậu trường với cả lợi ích và những bất lợi rõ ràng nếu xung đột kéo dài.

Trong khi đó ông Zhu Feng, Hiệu trưởng Trường Nghiên cứu quốc tế tại Đại học Nam Kinh, nhận định các lợi ích của Trung Quốc ở Trung Đông chủ yếu là kinh tế hơn là an ninh.

Bắc Kinh cũng cần cân bằng trong quan hệ với các cường quốc khu vực khác như Saudi Arabia hay Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE).

Hải Minh

Nguồn : Tuổi Trẻ online, 08/03/2026

*********************

Máu lửa đỏ trời Trung Đông : Bắc Kinh… ‘bất động’

Trúc Phương, Người Việt, 04/03/2026

Ngoài việc "cực lực lên án", Bắc Kinh hoàn toàn bất động trong việc giải cứu Tehran, khi những mảng địa-chính trị Trung Đông rung chuyển dữ dội sau chiến dịch "Epic Fury" giết chết Giáo chủ Ali Khamenei cùng loạt viên chức cấp cao Iran ngày 28/2. Bất luận kết quả cuộc chiến của Mỹ-Israel như thế nào, Trung Đông đã thật sự bước sang trang mới với vô số yếu tố bất định và phức tạp. Trung Quốc buộc phải tính lại toàn bộ chiến lược trước bản đồ mới, chưa hình thành, ở Trung Đông.

Ngoại trưởng Vương Nghị của Trung Quốc (phải) gặp người đồng nhiệm của Iran, Mohammad Javad Zarif, tại Bắc Kinh hôm 31/12/2019. (Hình minh họa : Noel Celis/Pool/Getty Images)

Với Bắc Kinh, đây là cơn địa chấn mang tính thảm họa. Khi dư chấn lan ra từ Tehran, Bắc Kinh đối mặt nguy cơ an ninh năng lượng rạn nứt, xuất cảng quốc phòng lao dốc, và Sáng kiến Vành đai Con đường (BRI) bị xé toạc. Cái gọi là liên minh CRINK (viết tắt từ "China, Russia, Iran, North Korea") mà Bắc Kinh dày công xây dựng bây giờ gần như đổ sụm.

Rạn nứt an ninh năng lượng

Đòn tấn công của Mỹ-Israel vào Iran tạo ra hệ lụy sâu rộng cho thị trường năng lượng toàn cầu, giáng một cú sốc hệ thống nặng nề vào Trung Quốc, quốc gia nhập cảng năng lượng lớn nhất thế giới.

Chiến dịch bắt sống Tổng thống Nicolas Maduro của Venezuela trước đó đã khiến dòng dầu thô giá rẻ khổng lồ chảy sang Trung Quốc bị chặn đứng. Việc Ukraine tăng cường tấn công vào hạ tầng năng lượng Nga cũng làm suy giảm đáng kể năng lực xuất cảng của Moscow. Khi dầu Venezuela bị Washington kiểm soát, sản lượng dầu Nga bị Kyiv bóp nghẹt, và nguồn cung Iran rơi vào hỗn loạn, Bắc Kinh gần như mất sạch nguồn dầu với giá ưu đãi.

Nỗi đau thực sự không chỉ ở việc phải trả giá cao hơn cho mỗi thùng dầu. Sự sụp đổ chế độ Iran đã phá hủy một cấu trúc kinh tế khép kín vốn sinh lợi cho Bắc Kinh. Thương mại Trung Quốc-Iran dựa vào cơ chế thanh toán phi đô la và các hệ thống đổi hàng quy mô lớn nhằm né lệnh trừng phạt Mỹ. Những năm gần đây, khoảng 90% lượng dầu xuất cảng Iran chảy sang Trung Quốc, với giá chiết khấu, giúp Bắc Kinh giảm thiểu rủi ro từ biến động giá. Giờ đây, sự phụ thuộc đó lại trở thành gánh nặng.

Bắc Kinh từng sử dụng một kênh tài chính ngầm, gọi là "Chuxin" ("Sơ Tâm" – nghĩa đen là "giữ vững lý tưởng ban đầu", như trong cụm từ "bất vong sơ tâm" – "trước sau như một") – trong đó dầu Iran được dùng để tài trợ các dự án hạ tầng do doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc thực hiện, thay vì chuyển tiền mặt.

Song song đó là mạng lưới trao đổi công nghiệp, nơi các nhà sản xuất Trung Quốc xuất cảng hàng hóa để đổi lấy kim loại từ Iran. Các nhà máy lọc dầu Trung Quốc thanh toán phần còn lại bằng nhân dân tệ qua những kênh luồn lách không ràng buộc bởi hệ thống tài chính Mỹ.

Khi chính quyền Iran bị "chặt đầu", hệ sinh thái đổi-hàng-lấy-dầu ("Chuxin") sụp đổ. Buộc phải quay về thị trường toàn cầu, Bắc Kinh giờ phải trả mức giá bị đẩy cao vì chiến tranh và còn buộc phải thanh toán bằng đô la Mỹ.

Việc quay lại thương mại bằng đồng đô la – dưới sự giám sát chặt chẽ – sẽ làm hao hụt đáng kể dự trữ ngoại hối chiến lược của Trung Quốc. Nghiêm trọng hơn, việc xóa sổ mạng lưới thanh toán dầu bằng nhân dân tệ – vốn dựa trên bộ ba (bị Mỹ trừng phạt) gồm Iran, Venezuela và Nga – giáng một đòn nặng nề vào chiến lược quốc tế hóa đồng nhân dân tệ của Bắc Kinh.

Xuất cảng vũ khí ảnh hưởng thế nào ?

Không chỉ năng lượng, việc chế độ Iran bị phá hủy còn đánh thẳng vào trái tim tổ hợp công nghiệp-quốc phòng đang tăng trưởng của Trung Quốc. Những năm gần đây, xuất cảng vũ khí Trung Quốc liên tục đi lên, vừa mang lại nguồn thu lớn, vừa là công cụ cài cắm tiêu chuẩn kỹ thuật và ảnh hưởng Bắc Kinh vào các nước đang phát triển. Hỗn loạn ở Tehran ngay lập tức làm vô hiệu các thương vụ trị giá hàng tỷ đang chờ ký, trong đó có vụ Iran dự tính mua tiêm kích J-10C và hỏa tiễn siêu thanh chống hạm CM-302.

Thiệt hại tài chính chưa đáng sợ bằng tổn thất uy tín. Các khách hàng hiện tại và tiềm năng đối diện một thực tế phũ phàng : vũ khí Trung Quốc không chịu nổi các đòn đánh của phương Tây. Chỉ vài tuần trước vụ Iran, radar JY-27 và hệ thống giám sát do Trung Quốc cung cấp đã hoàn toàn bất lực trước cuộc đột kích chớp nhoáng của Mỹ trong chiến dịch bắt cóc Tổng thống Maduro.

Bây giờ, mạng lưới phòng không tại Iran – được cho là có cả hệ thống HQ-9B do Trung Quốc cung cấp (dù Bắc Kinh phủ nhận) – cũng thất bại thảm hại trong việc bảo vệ Khamenei trước chiến dịch "chặt đầu" của Mỹ-Israel. Sự phơi bày yếu kém công nghệ quân sự càng trở nên nghiêm trọng trong bối cảnh nội bộ quân đội Trung Quốc rối ren trước chiến dịch thanh trừng tham nhũng của Tập Cận Bình.

Đứt gãy Sáng kiến Vành đai Con đường (BRI)

Hơn một thập niên qua, BRI là trụ cột chính sách đối ngoại của Tập Cận Bình, trong đó Trung Đông đóng vai trò bản lề địa-kinh tế và địa-chính trị. Iran – ràng buộc bởi thỏa thuận đối tác chiến lược toàn diện ký vào năm 2021 – được xem là cầu nối trên bộ không thể thiếu trong Hành lang kinh tế Trung Quốc-Trung Á-Tây Á. Việc nhà nước Iran đột ngột tê liệt chẳng khác nào cắt đứt động mạch chiến lược này, làm lung lay chiến lược mở rộng về phía Tây của Bắc Kinh.

Hỗn loạn ở Tehran biến nguồn tài sản chiến lược thành hố đen đầu tư. Thỏa thuận năm 2021 trị giá 400 tỷ đô la – nhằm bảo đảm nguồn năng lượng và hạ tầng Iran trong 25 năm – bây giờ, khi hệ thống lãnh đạo Iran bị xóa sổ, hàng tỷ đô vốn cam kết, từ viễn thông đến giao thông, có nguy cơ thành thứ "bỏ thì thương, vương thì tội". Việc các dự án bị đóng băng chắc chắn gây thiệt hại tài chính lớn và khó đảo ngược cho các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc.

Về địa-chính trị, hệ quả còn mang tính cấu trúc. BRI chưa bao giờ thuần túy là dự án phát triển kinh tế. Đó là công cụ chiến lược để mở rộng ảnh hưởng Bắc Kinh khắp lục địa Á-Âu, tạo nên một vành đai đòn bẩy chính trị nối từ Đông Á sang Châu Âu. Tham vọng này dựa vào hai trục trên bộ : tuyến phía Bắc qua Nga và tuyến trung tâm qua Iran. Khi Nga bị trói buộc bởi trừng phạt và cuộc chiến Ukraine, còn cây cầu Iran bị chặt đứt, "Hành trình Tây tiến" của Bắc Kinh gần như bị phong tỏa. Chiến lược xây dựng sức mạnh mang màu sắc "Trung tâm Hoa hạ" vào lõi Á-Âu chịu thất bại một cách nghiêm trọng.

Cần nhắc lại, ba năm qua, Iran đã gia nhập Tổ chức Hợp tác Thượng Hải và nhóm BRICS – hai cơ chế đa phương do Trung Quốc dẫn dắt. Tháng 12/2025, Iran đã tổ chức cuộc tập trận chống khủng bố Sahand 2025 với sự tham gia của binh sĩ Trung Quốc, Nga và bảy quốc gia khác. Trung tuần tháng 1/2026, Trung Quốc, Iran và Nga tiếp tục tham gia cuộc tập trận hải quân do Nam Phi đăng cai, dưới sự điều phối của nhóm BRICS.

Tham vọng "nhất thống giang hồ" bị lung lay

Tổn thất lâu dài nhất từ hỗn loạn Iran có lẽ là sự sụp đổ hình ảnh Trung Quốc như một nhà bảo trợ an ninh đáng tin cậy. Nhiều năm qua, Bắc Kinh đã dày công xây dựng ảnh hưởng tại phương Nam, đặc biệt Châu Phi và Mỹ Latinh. Họ tự định vị là đối tác thân thiện so với bá quyền phương Tây, sẵn sàng đối đãi các "hảo bằng hữu" bằng "thịnh tình" có trước có sau. Tuy nhiên, tất cả những gì "đại ca" có thể làm chỉ là buông ra vài câu "lên án cực lực" khi đàn em đối mặt hiểm dọa sinh tử.

Thế giới đã chứng kiến Trung Quốc bất lực khi Maduro bị bắt ; giờ lại thấy điều tương tự khi Khamenei bị "tiêu diệt". Với những nước nhỏ nằm trong quỹ đạo Bắc Kinh, Trung Quốc, rốt cuộc, chỉ là "hổ giấy" – một cường quốc sẵn sàng thu lợi từ khai thác tài nguyên và chiến thuật ngoại giao bẫy nợ, nhưng không đủ năng lực hoặc ý chí triển khai sức mạnh để bảo vệ đồng minh. Những quốc gia từng trông cậy vào Bắc Kinh như tấm khiên chính trị-quân sự giờ đây chỉ có thể ngậm bồ hòn làm ngọt.

Tuy nhiên, Trung Quốc chưa hẳn mắt trắng. Vấn đề đáng quan tâm nhất là Mỹ-Israel có sa lầy Trung Đông hay không. Mỹ-Israel càng dính chân vào Trung Đông lâu chừng nào thì Trung Quốc còn có cơ hội xoay chuyển và thậm chí hưởng lợi, khi bộ máy hoạch định chính sách ở Washington không còn đủ nguồn lực – cả chính trị lẫn quân sự – để tập trung vào Châu Á. Khả năng uyển chuyển ứng biến của Bắc Kinh là điều không thể xem thường và không nên đánh giá thấp. Trước mắt, có thể thấy cuộc chiến của Trump đang tạo ra không gian để Trung Quốc tiếp tục tận dụng ưu thế thống trị khoáng sản chiến lược, đặc biệt trong lĩnh vực quốc phòng, đồng thời đẩy vấn đề Đài Loan ra khỏi danh sách những mối bận tâm ngày càng dài của Mỹ.

Biến động Trung Đông tác động ra sao đến chuyến kinh lý Trung Quốc của Trump (dự kiến từ ngày 31/3 đến 2/4/2026) ? Cuộc gặp có thể bị hủy nhưng nếu được thực hiện thì giọng điệu hai bên chắc chắn thay đổi.

Với Trung Quốc, dù phải xử lý nhiều hệ lụy từ cuộc khủng hoảng Iran, Bắc Kinh vẫn phải đặt ưu tiên vào quan hệ với Washington. Mỹ cũng chẳng dại gì đưa họ vào thế khó trong cuộc đối đầu với một đối thủ vốn dĩ đã không thể thắng trong cuộc chiến thuế quan.

Trúc Phương

Nguồn : Người Việt, 04/03/2026