Những cú "sốc hàng" ở Việt Nam hậu Đại Hội XIV - 1 (Lê Thân)


Loạt bài "Những cú sốc hàng hậu Đại hội XIV" được thực hiện bởi một nhóm tác giả gồm các nhà phân tích và quan sát độc lập, theo dõi cận cảnh các chuyển động chính trị – kinh tế – xã hội – đối ngoại và quốc phòng của Việt Nam trong giai đoạn hậu Đại hội XIV. Loạt bài sẽ được đăng thành nhiều kỳ. Mục tiêu nhằm nhận diện một giai đoạn chuyển pha – nơi Việt Nam bước vào vùng thử nghiệm sâu sắc và toàn diện nhất kể từ sau Đổi mới, với cường độ thay đổi cao, tốc độ nhanh và mức độ rủi ro chưa từng có.



Kỳ 1

Thể chế là điểm nghẽn – Quyền lực sẽ được vận hành theo mô hình nào ?

Hậu Đại hội XIV, giới quan sát tập trung chú ý không chỉ danh sách nhân sự cụ thể, mà là một chuỗi vấn đề căn bản hơn nhiều : Việt Nam sẽ vận hành theo mô hình quyền lực nào, và hệ thống thể chế hiện tại liệu có đủ khả năng chịu tải và điều chỉnh mô hình đó không ? Hay dưới thời Tô Lâm, Bộ Luật về Đảng cộng sản Việt Nam sẽ chào đời ?

Hậu Đại hội XIV, điều khiến giới quan sát trong và ngoài nước quan tâm không chỉ là danh sách nhân sự cụ thể, mà là một chuỗi vấn đề căn bản hơn nhiều : Việt Nam sẽ vận hành quyền lực theo mô hình nào trong giai đoạn mới, và hệ thống thể chế hiện tại liệu có đủ khả năng chịu tải, kiểm soát và tự điều chỉnh trước mức độ tập trung quyền lực ngày càng cao hay không ?

Việc quyền lực được tái cấu trúc mạnh mẽ quanh trung tâm lãnh đạo mới không chỉ đặt ra câu hỏi về con người, mà quan trọng hơn, đặt ra câu hỏi về luật chơi. Khi quyền lực cá nhân có xu hướng vượt lên trên các cơ chế tập thể truyền thống, đâu là ranh giới giữa hiệu quả điều hành và rủi ro thể chế ? Những thiết kế hiện hành của Đảng, Nhà nước và các cơ quan giám sát liệu còn phù hợp, hay đang bộc lộ giới hạn trong việc hấp thụ và kiểm soát quyền lực tập trung ?

Trong bối cảnh đó, các tranh luận xoay quanh khả năng luật hóa vai trò và trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam – dưới những hình thức khác nhau – không còn là câu chuyện học thuật thuần túy, mà phản ánh một nhu cầu thực tế : khi quyền lực thay đổi cách vận hành, thể chế buộc phải thay đổi theo, nếu không muốn chính quyền lực trở thành điểm nghẽn của hệ thống.

Ở trung tâm của câu hỏi ấy là Tổng bí thư Tô Lâm – một nhân vật đang được truyền thông phương Tây mô tả như biểu tượng của xu hướng tập trung quyền lực theo mô hình "một người", khác hẳn truyền thống "lãnh đạo tập thể" vốn được xem là cơ chế tự bảo hiểm của hệ thống chính trị Việt Nam suốt nhiều thập kỷ.

Nhưng nếu chỉ nhìn vấn đề ở góc độ cá nhân, ta sẽ bỏ lỡ bản chất sâu hơn : cú sốc hậu Đại hội XIV không nằm ở con người, mà nằm ở sự va chạm ngày càng rõ giữa cách vận hành quyền lực thực tế của Đảng cộng sản Việt Nam và khung pháp lý – thể chế mà chính nhà nước Việt Nam tuyên bố theo đuổi (1).

"Một đít hai ghế" : lựa chọn thể chế, không còn là tình thế

Việc ông Tô Lâm được dự kiến kiêm nhiệm cả chức Tổng bí thư lẫn Chủ tịch nước đang được các hãng tin như BBC, Reuters, Bloomberg hay SCMP nhìn nhận không phải như một giải pháp tình thế, mà như một lựa chọn mang tính cấu trúc. Cách đặt vấn đề của họ khá thống nhất : đây là nỗ lực tái thiết kế trung tâm quyền lực nhằm khắc phục tình trạng phân mảnh trong bộ máy hiện tại.

Lập luận này không phải không có cơ sở. Trong nhiều năm, hệ thống chính trị Việt Nam bị phàn nàn là chậm chạp, nhiều tầng nấc, với quyền lực bị chia cắt giữa Đảng – Nhà nước – Chính phủ. Quyết sách lớn dễ rơi vào tình trạng "cha chung không ai khóc", còn trách nhiệm cuối cùng thì bị hòa tan trong khái niệm lãnh đạo tập thể.

Trong bối cảnh đó, "một đít hai ghế" được xem như cách rút ngắn chuỗi quyền lực, gom quyền quyết định về một trung tâm rõ ràng hơn. Tuy nhiên, vấn đề thể chế cốt lõi không nằm ở việc có tập quyền hay không, mà ở chỗ : Việt Nam chưa từng thiết kế một hệ thống kiểm soát và trách nhiệm pháp lý tương xứng cho mô hình tập quyền cá nhân.

Nói cách khác, quyền lực đang được gom nhanh hơn rất nhiều so với khả năng điều chỉnh của luật chơi.

Quốc hội : mắt xích hợp thức hóa, không phải nơi thiết kế quyền lực

Kỳ họp Quốc hội sắp tới – nơi dự kiến thông qua chức danh Chủ tịch nước cho ông Tô Lâm – được giới quan sát quốc tế nhìn nhận khá tỉnh táo. Đây không phải là không gian tranh luận về mô hình quyền lực, mà là khâu hợp thức hóa một quyết định đã được định đoạt từ trước.

Thực tế này phản ánh đúng vai trò thể chế hiện nay của Quốc hội Việt Nam : không thảo luận về kiểm soát – cân bằng, không có cơ chế phủ quyết hay trì hoãn, và không đóng vai trò thiết kế quyền lực. Quốc hội không quyết định ai nắm quyền và quyền đó được giới hạn ra sao ; họ chỉ đóng dấu cho một sắp xếp đã hình thành trong nội bộ Đảng.

Ở đây, vấn đề không chỉ là hình thức nghị trường, mà là một mâu thuẫn sâu xa hơn giữa nguyên tắc hiến định và thực tiễn vận hành. Hiến pháp Việt Nam khẳng định nhà nước là "của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân", nhưng thực tế phân bổ quyền lực lại diễn ra gần như hoàn toàn trong không gian nội bộ của Đảng cộng sản Việt Nam.

Quốc hội, thay vì là nơi thể hiện sự ủy quyền của nhân dân, trở thành cầu nối hợp thức hóa quyết định của một tổ chức chính trị đứng trên hệ thống pháp luật thông thường.

Đảng cộng sản Việt Nam : từ đảng cầm quyền đến "thực thể siêu pháp lý"

Sau hơn nửa thế kỷ nắm quyền kiểm soát toàn diện đất nước, Đảng cộng sản Việt Nam vẫn vận hành với nhiều đặc trưng của một "đảng cách mạng" hay thậm chí một "hội kín", hơn là một đảng phái chính trị cầm quyền minh bạch trong một nhà nước pháp quyền hiện đại.

Các quyết định quan trọng nhất về nhân sự, đường lối và chiến lược quốc gia thường được quyết định trong các hội nghị kín của Đảng, rồi sau đó mới được Nhà nước và Quốc hội hợp thức hóa. Điều này tạo ra một nghịch lý pháp lý : một tổ chức nắm quyền lực tối cao đối với Nhà nước và xã hội, nhưng lại không tồn tại như một pháp nhân chịu trách nhiệm trước pháp luật và người dân.

Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước theo Điều 4 Hiến pháp, nhưng bản thân Đảng không thể bị kiện, không có tư cách pháp nhân dân sự, không chịu trách nhiệm hình sự hay dân sự với tư cách một tổ chức. Khi một quyết sách gây hậu quả nghiêm trọng, trách nhiệm chỉ có thể truy về các cá nhân hoặc cơ quan nhà nước, còn tổ chức đã ra quyết định cuối cùng thì đứng ngoài mọi cơ chế trách nhiệm.

Nhiều nhân sĩ trí thức từng đề nghị phải sớm ban hành Luật về hoạt động của Đảng. Tuy nhiên, điều này chưa bao giờ được Đảng cộng sản Việt Nam quan tâm, bởi nếu đạo luật ấy ra đời nhằm cụ thể hóa Điều 4 Hiến pháp, thì Đảng – về nguyên tắc – sẽ phải chịu sự kiểm soát của Chính phủ, Quốc hội và Tòa án.

Nhưng đấy lại chính là yêu cầu căn bản của một xã hội vận hành theo pháp quyền. Và cũng chính vì vậy, đấy cũng đã trở thành điểm nghẽn thể chế – điểm nghẽn của mọi điểm nghẽn – mà cho đến nay vẫn chưa có dấu hiệu nào cho thấy vấn đề sẽ được giải tỏa.

Chính "bóng ma pháp lý" trên khiến việc tập trung quyền lực trở nên nguy hiểm hơn : quyền lực càng gom về một trung tâm, khoảng trống trách nhiệm càng lộ rõ. Muốn tránh đại nạn này, một Bộ Luật về Đảng cộng sản Việt Nam cần được ra đời với các điều khoản cụ thể như : vị trí pháp lý ; cơ sở tính chính danh ; nguyên tắc giải trình và kiểm soát quyền lực ; ranh giới giữa đảng – nhà nước – nhân dân ; dân chủ nội bộ ; đảng và xã hội dân sự… (2).

Sắp xếp bộ máy và phản ứng co cụm của hệ thống

Sau Đại hội XIV, câu hỏi không chỉ là ai giữ ghế nào, mà là hệ thống chịu được mức độ sắp xếp và tái cơ cấu đến đâu. Những "tiếng kêu dậy đất" trong nội bộ cán bộ không phải là phản kháng chính trị, mà là oán thán vận hành : không rõ ranh giới trách nhiệm, làm đúng quy trình vẫn có rủi ro pháp lý, không làm thì bị quy là trì trệ.

Đây là biểu hiện rất điển hình của một điểm nghẽn thể chế : khi quyền lực tập trung nhưng trách nhiệm không được xác lập rõ ràng, phản xạ tự nhiên của bộ máy là co cụm và né tránh. Nếu tiếp tục siết chặt kỷ luật và thay máu nhân sự mà không điều chỉnh nền tảng pháp lý, hiệu quả quản trị không những không tăng mà nguy cơ tê liệt hành chính còn lớn hơn.

Nhất thể hóa : sắp xếp cá nhân hay tiền lệ thể chế ?

Câu hỏi then chốt mà giới quan sát quốc tế đặt ra là : việc kiêm nhiệm này chỉ áp dụng cho cá nhân ông Tô Lâm, hay sẽ trở thành một thông lệ thể chế mới ?

Nếu đây chỉ là một sắp xếp cá nhân cho một nhiệm kỳ cụ thể, hệ thống có thể "chịu đựng" được, vì nó được xem như một ngoại lệ. Nhưng nếu đây là bước mở đầu cho một mô hình lâu dài, Việt Nam buộc phải đối diện với câu hỏi chưa từng được trả lời rốt ráo : ai giám sát người đứng đầu khi quyền lực tập trung vào một cá nhân trong một hệ thống mà Đảng đứng ngoài trách nhiệm pháp lý ?

Cho đến nay, chưa có tín hiệu rõ ràng về việc sửa Hiến pháp hay thiết kế các cơ chế kiểm soát mới. Điều này khiến quá trình tập quyền diễn ra nhanh hơn nhiều so với cải cách thể chế – một công thức luôn tiềm ẩn rủi ro tích tụ.

Kết luận : Thể chế là bài toán vẫn chưa có lời giải

Nhìn tổng thể, bài viết này thật ra không xoay quanh cá nhân Tô Lâm, mà xoáy vào một trục duy nhất : quyền lực đang được gom nhanh, trong khi tính chính danh, tư cách pháp lý và cơ chế trách nhiệm của hệ thống vẫn dậm chân tại chỗ, thậm chí có nơi thụt lùi so với trước đây.

Từ "một đít hai ghế", vai trò hình thức của Quốc hội, phản ứng co cụm của bộ máy, cho tới mâu thuẫn hiến định về nguồn gốc quyền lực, tất cả đều là những biểu hiện khác nhau của cùng một điểm nghẽn thể chế.

Câu hỏi cuối cùng của kỳ này không phải là Tô Lâm có đủ quyền lực hay không, mà là : hệ thống hiện tại có đủ năng lực hấp thụ mức quyền lực đó mà không tự làm mình tê liệt – và tự bộc lộ khủng hoảng chính danh – hay không ? Và vấn đề then chốt của mọi vấn đề là Tô Lâm có dám đột phá điểm nghẽn của thế chế bằng một bộ luật về Đảng cộng sản Việt Nam ? (3).

Lê Thân

Tù chính trị Côn Đảo trước 1975

Tham khảo :



(3) Quốc Phương, "Thách đố nhà nước tranh luận về Hiến pháp", BBC, 17/11/2013