Những nghịch lý chết người hay bi kịch của một quốc gia (Viet-studies- Nguyễn Quang Dy)
Mô hình nhà nước do một Đảng độc quyền
lãnh đạo toàn diện, theo thể chế “tập trung dân chủ” đã lỗi thời và bất
cập trước yêu cầu phát triển của kinh tế thị trường và tiến bộ xã hội.
Nếu muốn “kiến tạo” và chấn hưng đất nước, để đối phó với những nguy cơ
và thách thức mới, Viêt Nam phải “cải cách vòng hai” bằng cách đổi mới
thể chế toàn diện, bao gồm cải cách thể chế chính trị và hiến pháp, theo
hướng “tam quyền phân lập”.
“Chính trong những khoảnh khắc đen tối nhất, ta phải tập trung để thấy được ánh sáng”. (It is during our darkest moments that we must focus to see the light – Aristotle)
Một số nghịch lý chết người có thể làm
chính trị suy đồi và kinh tế tụt hậu, dẫn đến bi kịch quốc gia. Nguyên
nhân chính là do hội chứng cực đoan và ngộ nhận, vì cực đoan thường dẫn
đến vô cảm và ngộ nhận thường dẫn đến vô minh. Vô cảm và vô minh vốn là
bi kịch lớn của con người, như một căn bệnh mãn tính rất khó chữa.
Tại các nước đang chuyển đổi (nhưng
“không chịu phát triển”), cực đoan và ngộ nhận cản trở cải cách thể chế
và hòa giải dân tộc, bỏ qua những cơ hội sống còn để phát triển, làm đất
nước ngày càng suy yếu, cạn kiệt, và phụ thuộc, dễ mất độc lập và chủ
quyền. Vì vậy, muốn thoát khỏi vấn nạn đó, để “kiến tạo” và phục hưng
đất nước, người Việt phải nâng cao dân trí và đổi mới tư duy, để cải
cách thể chế và dân chủ hóa.
Nhưng trong bối cảnh phân hóa nội bộ hiện nay, ai ủng hộ và ai chống lại cải cách thể chế? Theo Lê Kiên Thành, “Nếu
những người có chức có quyền giàu lên nữa thì đất nước này sẽ sụp đổ…
Chúng ta sẽ phải đứng về một phía chống lại 1/3 chúng ta, mà 1/3 này là
những người vừa có tiền vừa có quyền, những người đang được hưởng lợi từ
thể chế hiện giờ… Đó là những nghịch lý mà chúng ta đang phải đối mặt”.
Cực đoan và hận thù hay “tù nhân của quá khứ”
Khi xem xét lại chiến tranh Việt Nam, người ta nhận ra “một cuộc chiến sai lầm, sai lầm về địa điểm, sai lầm về thời điểm, và sai lầm về địch thủ” (a
wrong war, at the wrong place, at the wrong time, with the wrong
enemy – John Kennedy, Oct 13, 1960). Đó là một bài học lịch sử cho cả
hai bên, vì ngộ nhận dẫn đến nghịch lý chết người. Phải chăng lịch sử có
thể rẽ ngả khác, nếu John Kennedy nghe lời khuyên của George Ball (thứ
trưởng ngoại giao, đã khuyên tổng thống đừng đưa quân vào Việt
Nam). Những người “thông minh tài giỏi nhất” (the best and the
brightest) cũng có thể ngộ nhận và mắc sai lầm.
Tuy chiến tranh Việt Nam đã kết thúc hơn
bốn thập kỷ, nhưng bóng ma Việt Nam vẫn còn ám ảnh hai đất nước, và hai
thế hệ người Mỹ cũng như người Việt. Tuy hai nước cựu thù đã bình
thường hóa và trở thành đối tác toàn diện, nhưng hai cộng đồng người
Việt đến nay vẫn chưa thể hòa giải được. Thậm chí trong cùng một cộng
đồng, các phe phái cũng coi nhau như thù địch, dùng bạo lực để triệt hạ
lẫn nhau. Vì vậy mới có bi kịch “Terror in Little Saigon” và “tiếng súng
Yên Bái”, như một nghịch lý của người Việt.
Những người cộng sản cực đoan và những
người chống cộng cực đoan thực ra rất giống nhau, vì họ đều độc tài,
không chấp nhận ai nghĩ khác mình, nói khác mình. Chính họ đã tiếp tay
cho nhau, ngăn cản hòa giải và đổi mới. Chừng nào những ân oán của hai
bên chưa được hóa giải, cực đoan và hận thù (chứ không phải ôn hòa và
nhân ái) còn ngự trị trong tâm thức họ như “tù nhân của quá khứ” thì bi
kịch này còn tiếp diễn.
“Kinh tế thị trường định hướng XHCN” hay “Frankenstein”
Suốt bốn thập kỷ sau chiến tranh
Việt Nam, tuy trải qua bao biến động trên thế giới và trong nước, nhưng
Việt Nam vẫn kiên trì định hướng XHCN, vẫn “đi tìm cái không có”
(như lời Bộ trưởng Bùi Quang Vinh). Chính là cực đoan và ngộ nhận đã xô
đẩy Việt Nam vào bãi lầy ý thức hệ, nên vẫn loanh quanh tại ngã ba
đường.
Chủ nghĩa tư bản hoang dã hay chủ nghĩa xã hội thân hữu, về bản chất đều như nhau, đã đi đêm và đẻ ra cái quái thai “kinh tế thị trường định hướng XHCN”,
nay trở thành Frankenstein đang thao túng quyền lực, làm đất nước suy
yếu và tụt hậu. Nói cách khác, các nhóm lợi ích đã trở thành “tư bản
đỏ”, thao túng quyền lực và lũng đoạn chính sách, tạo ra bất ổn vĩ mô,
làm cạn kiệt tài nguyên quốc gia, gây ra thảm họa môi trường, đẩy đất
nước đến chỗ hỗn loạn, dễ mất chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc.
Trước vấn nạn nợ công khổng lồ, như một
đám mây đen lớn đang đe dọa làm vỡ nợ quốc gia, chính phủ kiến tạo
không thể tiếp tục đầu tư tràn lan vào những dự án lợi bất cập hại, duy
trì các tập đoàn nhà nước thua lỗ và tham nhũng. Làm sao có thể kiến tạo
và chống tham nhũng nếu không đổi mới thể chế toàn diện để triệt tiêu
nguyên nhân gốc rễ? Chính phủ không thể bảo lãnh mãi cho con tàu đắm
Vinashin và các “quả đấm thép” (nợ đến 237 tỷ USD, bằng 120% GDP), trong
khi ngân sách phải “chạy ăn từng bữa”.
Liệu có “ổn định chính trị” nếu bất ổn về kinh tế
Theo chuyên gia Vũ Quang Việt, nợ công
của Việt Nam không phải chỉ sát ngưỡng báo động 65% GDP (khoảng 94,8 tỷ
USD). Nếu tính cả nợ của các doanh nghiệp nhà nước (được chính phủ bảo
lãnh) thì nợ công lên tới 210% GDP, và nợ xấu lên đến 11% GDP (khoảng 22
tỷ USD).
Trong khi đó dự trữ ngoại hối chỉ có 40
tỷ USD (theo Ngân hàng Nhà nước), nhưng 1/3 trong số đó là trái phiếu
chính phủ Mỹ (không khả dụng).
Theo Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính
sách (VERP), nguồn kinh phí chi cho các tổ chức công chiếm 1,7% GDP
(khoảng 71,000 tỷ VNĐ). Trong khi đó hàng năm Viêt Nam phải trả nợ đến
hạn (20 tỷ USD năm 2015, và 12 tỷ USD năm 2016). Trong tháng 11/2016,
Chính phủ phải vay tới 17 tỷ USD để chi thường xuyên cho 11 triệu người
ăn lương ngân sách và trả lãi các khoản vay đến hạn, thâm hụt ngân sách
hàng trăm ngàn tỷ VNĐ/tháng. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã cảnh báo khả
năng “sụp đổ tài khóa quốc gia”.
Dù Bộ Tài Chính có bán hết vốn các doanh
nghiệp lớn mà nhà nước nắm cổ phần, cũng chỉ thu về được 7 đến 15 tỷ
USD, chỉ đủ chi ngân sách từ một tháng rưỡi đến ba tháng. Trong khi đó
kiều hối năm 2016 giảm 30% (khoảng 3 tỷ USD). World Bank tuyên bố chấm
dứt ODA cho Việt nam vào tháng 7/2017 (tiếp theo sẽ là ADB).
Bức tranh kinh tế hiện nay làm người ta
liên tưởng đến Venezuyela. Nếu Trung Quốc không thể cứu Venezuyela (lạm
phát tới 700%), liệu họ có thể cứu Việt Nam? Theo Financial Times
(4/2016) nợ công Trung quốc năm 2016 tăng vọt lên 237% GDP (khoảng 28
ngàn tỷ USD). Trong khi đó dự trữ ngoại hối (tính đến đẩu 2017) đã giảm
xuống còn khoảng 3000 tỷ USD, nhưng chỉ một nửa số đó là khả dụng (theo
Gordon Chang).
“Tập trung dân chủ” hay “tam quyền phân lập”
Làm sao để “kiểm soát quyền lực”, nếu
không áp dụng “Tam quyền phân lập”? Cái gì đã tạo ra bộ máy hành chính
quan liêu khổng lồ, chồng chéo và bất cập? Làm thế nào để “nhất thể
hóa” nếu Đảng vẫn độc quyền lãnh đạo, không dựa trên “pháp quyền” (rule
of law)? Trên thế giới không có chính phủ nào có nhiều bộ trưởng và thứ
trưởng như Viêt Nam (22 bộ trưởng và 130 thứ trưởng). Chính phủ Mỹ
và Nhật cũng chỉ có 15-16 bộ trưởng và 16 thứ trưởng. Làm thế nào để
giảm chi tiêu ngân sách, nếu Việt Nam vẫn duy trì hai bộ máy hành chính
khổng lồ, với những “tổ chức quần chúng” phi sản xuất và ăn bám?
Mô hình nhà nước do một Đảng độc quyền
lãnh đạo toàn diện, theo thể chế “tập trung dân chủ” đã lỗi thời và bất
cập trước yêu cầu phát triển của kinh tế thị trường và tiến bộ xã hội.
Nếu muốn “kiến tạo” và chấn hưng đất nước, để đối phó với những nguy cơ
và thách thức mới, Viêt Nam phải “cải cách vòng hai” bằng cách đổi mới
thể chế toàn diện, bao gồm cải cách thể chế chính trị và hiến pháp, theo
hướng “tam quyền phân lập”.
“Theo Tàu hay theo Mỹ” là tâm thức đầy ngộ nhận
Trước đây Việt Nam đã phải đối phó
với nan đề “theo Liên Xô hay theo Trung Quốc”. Có lúc Viêt Nam đã “theo
cả hai” bằng cách cân bằng để tranh thủ nguồn lực chống Mỹ (trước 1975).
Có lúc Việt Nam đã theo Liên Xô để chống Trung Quốc (giai đoạn
1979-1989). Thậm chí Việt Nam đã từng ghi vào Hiến pháp rằng Trung Quốc
là “kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất” (mà Nayan Chanda chơi chữ gọi là
“Brother Enemy”).
Nhưng rồi sau đó Việt Nam lại “xoay
trục” theo Trung Quốc tại Thành Đô (9/1990) với phương châm “16 chữ
vàng”. Đó là quyết sách cực đoan do ngộ nhận về bạn thù và ý thức hệ, mà
quên mất “chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn”. Khi
Washington bắt tay với Bắc Kinh (từ 1972) họ đã bỏ rơi Đài Loan và Nam
Việt Nam, mặc cho Trung Quốc chiếm Hoàng Sa (1974). Khi Moscow hòa hoãn
với Bắc Kinh, họ cũng mặc cho Trung Quốc đánh chiếm Gac Ma và 4 đảo
Trường Sa (1988), tuy họ là “đồng minh chiến lược” với ta. Đó là những
bài học đau đớn để chúng ta đừng ngộ nhận và ngây thơ về quan hệ các
nước lớn.
Muốn độc lập dân tộc và bảo vệ chủ quyền
quốc gia, phải dựa vào sức mạnh nội lực là chính. Muốn vậy phải hòa
giải dân tộc và cải cách thể chế để “khai dân trí”, giải phóng năng
lượng yêu nước và tinh thần dân tộc, “chấn dân khí” để phục hưng đất
nước. Chính sách “cân bằng thụ động” (“đu dây” bằng nguyên tắc “ba
không”) tuy cần thiết như một sách lược (nhất thời) để đối phó tình
huống, nhưng “cân bằng tích cực” mới là chiến lược (lâu dài).
Người Việt phải học hỏi người Đức về hòa
giải dân tộc và thống nhất đất nước. Phải cải cách thể chế và dân chủ
hóa mới chấn hưng được đất nước, để đối phó với những biến động chính
trị bất thường và bất định (như Brexitism và Trumpism). Muốn “cân bằng
tích cực” với Mỹ và Trung Quốc, Việt Nam phải tăng cường hợp tác chiến
lược với các cường quốc khu vực (như Nhật, Ấn Độ, Úc) trong một khuôn
khổ đối tác chiến lược mới.
“Còn Đảng còn mình” hay chuẩn bị tháo chạy
Theo IOM (International Organization for
Migration) sau 25 năm tính từ 1990 đến 2015, đã có 2.558.678
người Việt di cư ra nước ngoài, tính trung bình mỗi năm có khoảng
100.000 người Việt di cư. Việt Nam nằm trong “Top 10” các quốc gia có
số du học sinh nhiều nhất thế giới.
Trong tổng số trên 4,5 triệu người Việt
đã di cư (tính đến 2015), số người định cư bằng đầu tư đang tăng lên
đáng kể. Chỉ riêng loại visa EB-5 (dành riêng cho các đối tượng đầu tư
vào Mỹ) đã tăng chóng mặt so với các loại visa khác (như EB-1, EB-2). Số
lượng visa EB-5 từ 6.418 suất (năm 2014) đã tăng vọt lên 17.662 suất
(năm 2015).
Đến nay, Viêt Nam có 21,000 du học sinh ở
Mỹ, trong đó đa số là con em các gia đình quan chức cao cấp và trung
cấp. Hồ sơ Panama tiết lộ Việt Nam có tới 189 cá nhân và tổ chức, với 19
công ty vỏ bọc được thành lập ở nước ngoài, chủ yếu là tại các “thiên
đường trốn thuế” (như Cayman và Virgin Islands). Sau khi ông Trump thay
đổi chính sách nhập cư vào Mỹ, nhiều người Việt chuyển hướng di cư sang
Canada và Australia. Người Việt Nam (cũng như người Mỹ) đang đối mặt với
quá nhiều biến số và ẩn số.
Tại hội thảo “Kịch bản Kinh tế Viet Nam
2017” (tp HCM, 9/3/2017) tiến sỹ Trần Đình Thiên (Viện trưởng Viện Kinh
tế) đã cảnh báo về tình trạng “tẩu tán tư bản”, với số triệu phú người
Việt di cư ra nước ngoài ngày càng tăng. Ngoài dòng tiền đầu tư chính
đáng ra nước ngoài, còn có dòng tiền chạy ra ngoài bất hợp
pháp theo dòng người di cư, trong đó nhiều triệu phú là quan chức đã có
sẵn kế hoạch bỏ chạy (một khi bị truy cứu trách nhiệm). Đến nay, tổng
cộng đã có 92 tỷ USD được chuyển phi pháp ra khỏi Viêt Nam.
“Hoàng hôn nhiệm kỳ” hay tranh thủ vơ vét
Các nhóm lợi ích tranh nhau vơ vét, chia
chác mọi thứ, làm cạn kiệt tài nguyên quốc gia. Họ “ăn không từ một cái
gì” (theo lời phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan). Hết nạc họ vạc đến
xương. Sau khi đã bán rẻ Vũng Áng cho Formosa, họ định bán nốt Cà
Ná. Sau khi đã ăn hết dầu khí, than, thủy điện, bauxite, vonphram, ruộng
đất…làm rừng vàng biển bạc cạn kiệt, họ tìm cách ăn nốt cát nhiễm mặn.
Phải chăng dự án thép Cà Ná và chủ trương khai thác cát để xuất khẩu
là “làn ranh đỏ” (red line) của thực trạng “hoàng hôn nhiệm kỳ”?
Năm 2010, chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã
ký văn bản cấm xuất khẩu cát nhiễm mặn. Nhưng đến 2013, Bộ Xây
dựng lại cho phép xuất khẩu cát nhiễm mặn qua hình thức “xã hội hóa” với
lý do “nhằm tiết kiệm chi phí nạo vét thông luồng”. Đây là
nhiệm vụ của Bộ Giao thông Vận tải dùng ngân sách để làm, tại sao phải
“xã hội hóa” để các doanh nghiệp khác thác cát tràn lan, tiếp tay cho
các nhóm lợi ích bán rẻ nốt tài nguyên quốc gia?
Theo phóng sự điều tra nhiều kỳ của báo
Tuổi trẻ (1-3/3/2017), hầu hết các tàu chở cát từ Phú Quốc đều đến
Singapore (đảo Tekong và Changi). Từ năm 2013 đến cuối năm 2016, Việt
Nam đã xuất 43 triệu m3 cát. Theo các hợp đồng xuất khẩu, giá bán cát
chỉ từ 0,8 đến 1,3 USD/khối, trong khi giá bán trên thực tế là hơn
4 USD/khối. Vậy chênh lệch giá đi đâu? Việt Nam không chỉ mất tài nguyên
cát, thất thu ngân sách (vì giá bán cát trên giấy tờ là quá thấp), mà
còn gây sụt lở ngiêm trọng, và nguy hại cho an ninh quốc gia.
Theo số liệu thống kê, từ năm 2016 Bộ
Xây dựng, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Quốc phòng và các địa phương (là
“chủ đầu tư”) đã phê duyệt 40 dự án nạo vét, tận thu một khối lượng cát
khoảng 250 triệu m3. Dẫn đầu hoạt động “xã hội hóa” này là Bộ Quốc Phòng
và chính quyền 11 tỉnh ven biển: Kiên Giang, Bình Thuận, Ninh Thuận,
Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Ðịnh, Quảng Nam, Thừa Thiên-Huế, Quảng Bình,
Quảng Trị, Hà Tĩnh. Cuộc chiến giành quyền nạo vét cát không chỉ dọc các
tỉnh ven biển, mà còn trên các dòng sông. Tranh chấp tại Sông Cầu giữa
Bắc Ninh và Bộ GTVT là “phần nổi của tảng băng chìm”.
Ngoài Singapore, Trung Quốc cũng tích
cực thu mua cát giá cao nhằm bồi đắp các đảo, đá mà họ chiếm của Việt
Nam. Các hoạt động nạo vét, bồi đắp các đảo nhân tạo, nhằm mở rộng diện
tích các đảo, đá mà họ chiếm đóng trái phép (như Châu Viên, Chữ Thập,
Gạc Ma, Ga Ven và Ken Nan) đã diễn ra với quy mô lớn. Từ năm 2014, diện
tích các đảo, đá mà họ chiếm tại Biển Đông đã tăng lên 400 lần (tương
đương 800ha). Vậy họ lấy cát ở đâu? Không loại trừ doanh nghiệp của
ta đã lặng lẽ bán cát cho họ. Nếu đúng là có chuyện này, thì đó có phải
là hành động phản quốc? Không thể vừa bảo vệ chủ quyền quốc gia, vừa
dung túng cho những kẻ làm tay sai cho ngoại bang (như Formosa &
MCC, Huawei & OPPO).
Như trước khi con tàu đắm
Theo Wikileaks (6/1/2017), có khoảng 65%
quan chức cấp cao đã có kế hoạch chạy khỏi Việt Nam (một khi có biến).
Như đã thành thông lệ, khi có quan chức tham nhũng nào bị “sờ gáy”,
là lại nghỉ phép trốn ra nước ngoài “chữa bệnh” (không biết bệnh gì).
Kèm theo dòng người di cư là dòng vốn đi theo. Chỉ tính riêng năm 2015,
đã có 19 tỷ USD chạy ra khỏi Việt Nam. Đó là hiện tượng tẩu tán vốn hay
“bỏ phiếu bằng chân”, trước thực trạng của đất nước ngày càng bi đát như
hình ảnh con tàu Vinashin đang chìm.
Bức tranh Viêt Nam là một bản sao bức
tranh Trung Quốc. Theo phó chủ tịch nước TQ Lý Nguyên Triều (Đại Kỷ
Nguyên, 30/12/2016), điều tra nội bộ trước đại hội Đảng 18 cho thấy trên
85% quan chức cấp cao đã cho vợ con định cư, mua nhà ở nước ngoài,
chuẩn bị ra đi trước nguy cơ “vong Đảng”. Theo Reuters, dự trữ ngoại hối
đã giảm 70 tỷ USD (trong tháng 11/2016) và 41 tỷ USD (trong tháng
12/2016), nay chỉ còn 3.010 tỷ USD.
Mỹ không còn là địa chỉ an toàn để rửa
tiền tham nhũng. Liệu chính quyền Trump có triển khai “Luật Nhân Quyền
Magnisky” (mà ông Obama đã ký) nhằm cấm nhập cảnh và đóng băng tài sản
của những người vi phạm nhân quyền? Liệu chính phủ Việt Nam có tiến hành
một chiến dịch “Săn Cáo” như chính quyền Tập Cận Bình đang làm?
Theo giáo sư Minxin Pei, chiến dịch
chống tham nhũng của Tập Cận Bình cho thấy tình trạng tham nhũng đã ăn
sâu vào mọi ngõ ngách của chế độ (nhất là từ thời Giang Trạch Dân). Tuy
nhiên, hoạt động chống tham nhũng vẫn chưa chạm đến cái gốc rễ quan
trọng nhất là “tham nhũng đất đai”. Có đến 90% quan chức có thể bị bắt
bất cứ lúc nào, trong khi số “quan thanh liêm” chỉ chiếm có 0,000001%
dân số. (VOA, 29/10/2016).
Chỉ cần quan sát dòng người và dòng vốn
chạy đi đâu là biết tình trạng đất nước ra sao. Dòng người di cư ngày
càng đông, gồm cả doanh nhân, trí thức, và quan chức, là dấu hiệu bất ổn
về “chảy máu chất xám” (brain drain) và “tẩu tán vốn”, làm đất nước
kiệt quệ. Đó là bi kịch của một quốc gia thiếu dân chủ, bị các nhóm lợi
ích thao túng, trì hoãn đòi hỏi cấp bách phải đổi mới thể chế, để họ
tranh thủ vơ vét nốt trước khi con tàu đắm.
NQD. 18/3/2017