Chính trường Việt Nam : Tại sao phụ nữ hoàn toàn lép vế ? (BBC tiếng Việt)

"Trong giáo dục hay đi xin việc, khởi đầu thì nam nữ ngang nhau, nhưng càng lên cao thì sự chênh lệch càng rõ", Thùy Anh, sinh viên một trường kinh tế tại Thành phố Hồ Chí Minh, chia sẻ quan điểm.

Từ trái qua : Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà, Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Bùi Thị Minh Hoài và Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh
Thuộc thế hệ Gen Z (sinh trong khoảng 1997-2012), lớn lên cùng mạng xã hội, các phong trào bình đẳng giới và tinh thần dám lên tiếng, Thùy Anh rất thẳng thắn và chủ động khi trao đổi về một lĩnh vực mà với cô là khô khan, xa vời và gắn liền với những gương mặt quen thuộc – mà phần lớn là nam giới : chính trường Việt Nam.
"Kỳ Đại hội 14 vừa qua, tôi theo dõi tin tức qua các trang tin tức trên Facebook, TikTok và các buổi thảo luận trên lớp môn Chủ nghĩa xã hội khoa học.
"Vì sắp ra trường nên tôi quan tâm việc những quyết sách từ Đại hội sẽ quyết định nền kinh tế Việt Nam 5-10 năm tới như thế nào. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc tôi có dễ tìm việc không, lương khởi điểm ra sao và những ngành nghề nào sẽ lên ngôi", nữ sinh viên ngành kinh tế luật nói với BBC News Tiếng Việt.
Ở thế hệ Gen Y (sinh từ 1981-1996), Hà Vân (Hà Nội) và Ngọc Ánh (Nha Trang) lại không theo dõi diễn biến của Đại hội 14 hay những biến động trên chính trường.
"Tôi không quan tâm lắm, nếu có hiện trên Facebook thì tôi đọc các tít cho biết vậy thôi chứ không tìm đọc có chủ đích", Ngọc Ánh, một giảng viên vừa kết hôn vào năm 2025, cho biết.
Trong khi đó, Hà Vân, một nhân viên văn phòng và là mẹ một con, không theo dõi các diễn biến chính trị, vì cho rằng "những quyết định lớn thường đã được định hướng và sắp xếp từ trước".
Nhưng cả ba nhân vật nữ mà BBC phỏng vấn nói trên đều có đồng quan điểm là số lượng phụ nữ trong dàn lãnh đạo của Việt Nam, từ cấp trung ương đến địa phương, đều rất khiêm tốn.
Liệu đây là vấn đề của cơ hội, định kiến hay cấu trúc hệ thống ?
Có tăng nhưng không đáng kể
Đầu năm 2021, các đại biểu dự Đại hội 13 đã bầu ra 200 ủy viên Trung ương, trong đó 19 người là nữ, tỷ lệ là 9,5%.
Gương mặt nữ duy nhất được bầu vào Bộ Chính trị vào thời điểm đó là bà Trương Thị Mai, người đã mất chức Thường trực Ban Bí thư và Ủy viên Bộ Chính trị vào tháng 5/2024.
Đầu năm 2026, Đại hội 14 đã bầu ra 21 ủy viên nữ trên tổng 200 người, tương đương 10,5%, song cũng chỉ có một gương mặt nữ xuất hiện trong nhóm quyền lực nhất của Đảng cộng sản Việt Nam là bà Bùi Thị Minh Hoài, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Từ Đài Loan, Nghiên cứu sinh tiến sĩ Trần Thị Mộng Tuyền tại Đại học Quốc lập Chính trị nói với BBC News Tiếng Việt rằng tỷ lệ này vẫn khiêm tốn so với mục tiêu bình đẳng giới và so với các vị trí then chốt trong Bộ Chính trị hay các ban đảng.
Dẫu vậy, bà cũng chỉ ra rằng Đại hội 14 đã gửi đi tín hiệu tích cực – dù mang tính ổn định hơn là đột phá – về vai trò của phụ nữ Việt Nam trong chính trị, chẳng hạn trong tổng số 1.586 đại biểu dự Đại hội, có gần 19 % là nữ, một con số cao hơn trước đây.
"Tín hiệu ở Đại hội 14 chủ yếu là tích lũy tiến bộ (Đại hội 13 là 9,5%, Đại hội 14 là 10,5%) trước chứ chưa phải một bước ngoặt rõ rệt", bà Mộng Tuyền đánh giá.
Tiến sĩ Thủy Nguyễn từ Trung tâm Nghiên cứu Việt-Mỹ, Đại học Oregon cho rằng số lượng phụ nữ so với nam giới ít hẳn từ khâu giới thiệu, ứng cử.
"Tôi thống kê trong suốt hơn 20 năm qua, số phụ nữ nắm các vị trí quan trọng trong chính phủ và Bộ Chính trị chỉ chiếm khoảng 5%", chuyên gia phân tích dữ liệu, chính sách công và khoa học chính trị này cho biết.
Khác hẳn với một số mô hình chính trị khác, nơi lúc đầu phụ nữ không được tham gia bầu cử và ít được huy động để tham gia vào các cuộc chiến tranh, Việt Nam theo mô hình cách mạng của Lenin-Stalin, trong đó phụ nữ được huy động tối đa vào hoạt động cách mạng ngay từ đầu. Trong tất cả các cuộc bầu cử, phụ nữ đều được vận động tham gia.
Việt Nam là một trong số các nước tiên phong ký nhiều cam kết quốc tế về bảo đảm quyền tham gia chính trị của phụ nữ, bao gồm quyền được bầu cử, tranh cử và nắm quyền trong các tổ chức chính trị.
"Từ khâu tranh cử trở đi thì khác. Việt Nam sử dụng mô hình đề cử và ứng cử nội bộ, không phải tranh cử trước công chúng. Theo đó, mối quan hệ nội bộ quyết định lớn đến kết quả. Mối quan hệ này lại được quyết định bởi cách vận hành bộ máy do nam giới nắm quyền là chính".
"Khâu nắm quyền chính trị được chi phối trực tiếp từ bước số hai, do vậy số lượng ít hẳn", Tiến sĩ Thủy Nguyễn phân tích.
Theo các nhà quan sát, ở cấp trung ương, phụ nữ đã có mặt, nhưng "chưa tương xứng với tiềm năng", chủ yếu ở các lĩnh vực xã hội, nhân văn như giáo dục, lao động-xã hội, y tế.
Nhiều vị trí then chốt vẫn do nam giới nắm, nên cảm giác phụ nữ tham gia vẫn còn bị giới hạn về quyền ra quyết sách.
Ở cấp địa phương hiện nay, sau cuộc tinh gọn bộ máy trung ương và sáp nhập địa phương của Tổng Bí thư Tô Lâm, bí thư và chủ tịch ủy ban nhân dân tại toàn bộ 34 tỉnh thành ở Việt Nam đều là nam giới, không có gương mặt nữ nào.
Ở khóa 13, số lượng các nữ bí thư tỉnh ủy dù hiếm hoi nhưng vẫn có, với các nhân vật như bà Bùi Thị Hồng Vân ở Quảng Ngãi, bà Hoàng Thị Thúy Lan ở Vĩnh Phúc, bà Nguyễn Thanh Hải ở Thái Nguyên, bà Nguyễn Thị Thu Hà ở Ninh Bình.
Theo Tiến sĩ Thủy Nguyễn, tính riêng trong nhóm hội đoàn địa phương – chủ yếu là để phụ hoạ cho hệ thống chính trị – phụ nữ có phần đông hơn, nhưng từ cấp tỉnh trở lên thì giảm hẳn.
"Cách vận hành chính trị dựa trên thỏa hiệp nội bộ lấy đi nhiều cơ hội của phụ nữ. Điều này có gốc rễ sâu xa từ văn hóa xã hội, mà văn hóa xã hội lại là nền tảng của văn hóa chính trị", bà đánh giá.

Vượt trội trong học tập, lép vế trong sự nghiệp
Theo số liệu được Cục Thống kê Việt Nam công bố vào tháng 1/2026, dân số trung bình năm 2025 ước tính là 102,3 triệu người, trong đó dân số nữ là 51,3 triệu người, chiếm 50,1%.
Tỷ lệ giới tính của dân số năm 2025 là 99,5 nam/100 nữ.
Dù chiếm tỷ lệ cao hơn trong dân số, đại diện của phụ nữ trong chính trị lại hoàn toàn lép vế.
Quan niệm phổ biến trong văn hóa Á Đông nói chung và Việt Nam nói riêng là phụ nữ có trách nhiệm chăm sóc con cái và vun vén cho gia đình.
Theo bà Mộng Tuyền, vai trò lãnh đạo chính trị ở Việt Nam vẫn còn bị ngầm hiểu là "lĩnh vực dành cho nam giới", dù "không được nói ra, nhưng ăn sâu trong văn hóa và cách tổ chức cán bộ".
Trong thực tế, phụ nữ thường bị đánh giá khắt khe hơn và phải chứng minh năng lực vượt trội mới được ghi nhận ngang bằng nam giới.
Những tiêu chí như kinh nghiệm, bản lĩnh chính trị hay sẵn sàng đi công tác xa... được bà Tuyền đánh giá là vô hình trung ưu tiên nam giới.
"Tôi nghĩ điều này phản ánh vấn đề hệ thống hơn là năng lực cá nhân, và nếu muốn thay đổi, cần có cơ chế hỗ trợ phụ nữ tiếp cận vị trí lãnh đạo quan trọng một cách công bằng", học giả này nói thêm.
Bên cạnh đó, các định kiến như phụ nữ mềm yếu, cảm xúc thất thường, không kiên định, không thích hợp để làm chính trị, vẫn còn tồn tại.
Tiến sĩ Thủy Nguyễn cho rằng nữ giới có khả năng kiểm soát cảm xúc tốt hơn, ít lâm vào các cuộc đánh chiến hơn.
"Bạo lực gia đình chủ yếu là do người chồng gây lên người vợ, cha lên con cái. Các vụ rối loạn xã hội chủ yếu cho các băng đảng nam giới gây ra. Chiến tranh giữa các quốc gia chủ yếu cho các nam lãnh đạo quyết định lâm chiến", bà nêu dẫn chứng.
Bà Thủy cũng nói rằng, ở độ tuổi từ tiểu học đến phổ thông, trẻ em gái ở Việt Nam được cho là có nhận thức xã hội sớm, biết chăm lo cho bản thân và người khác hơn bé trai. Đến bậc đại học, nhiều sinh viên nữ có điểm số cao hơn và được đánh giá là ít gây ra các rắc rối trong trường học hơn.
Nghiên cứu của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam công bố tháng 2/2025 cho thấy sinh viên nữ chiếm 52,8% giai đoạn 2016-2017 và tăng lên 54,2% vào năm 2021-2022. Tỷ lệ phụ nữ có trình độ đại học, sau đại học tiếp tục gia tăng.
Từ bậc phổ thông trung học lên đại học, tỷ lệ học sinh nữ cao hơn hẳn so với nam giới, duy trì ở mức từ 53,1% đến 53,7%.
Những con số này phản ánh sự thay đổi dễ thấy về lựa chọn của phụ nữ – đầu tư nhiều hơn vào học vấn để nâng cao cơ hội nghề nghiệp và thăng tiến.
Thế nhưng, sau khi tốt nghiệp phổ thông, đại học, các ưu điểm về trí tuệ, nhận thức, nhân cách, kỉ luật của giới nữ "bỗng dưng bị xóa nhòa", theo đánh giá của Tiến sĩ Thủy Nguyễn.
Từ tuổi này, xã hội lại nhấn mạnh vào việc sinh đẻ, phụng sự chồng con. Sự thừa nhận về các điểm ưu việt của nữ sinh biến mất, thay vào đó, xã hội thường hạn chế cơ hội công việc và thời giờ để giới nữ tiếp tục phát triển trí tuệ, chỉ trích nặng nề nếu họ muốn thăng tiến về mặt kinh tế hay chính trị.
Ví việc phụ nữ tham gia chính trị giống như đang chạy bộ mà phải vác thêm chiếc ba lô "việc nhà" rất nặng, nữ sinh viên Thùy Anh nói rằng nam giới có thể dồn toàn lực cho sự nghiệp.
"Ngoài ra, còn có một cái 'trần thủy tinh' vô hình trong tư duy của nhiều người, họ vẫn ngại để phụ nữ đưa ra những quyết sách sắt đá. Tôi thấy thiệt thòi nhất là các cô, các chị, chẳng hạn như ở nơi tôi làm thêm, thường bỏ lỡ các buổi giao lưu, kết nối sau giờ làm vì phải về lo cơm nước, khiến cơ hội thăng tiến cũng bị hạn chế đi phần nào", cô cho biết.
Cùng quan điểm, giảng viên Ngọc Ánh nói rằng rào cản của phụ nữ đến từ gia đình chồng con, công tác xa, nhậu nhẹt, ngoại giao, tiếp khách... song nếu những người phụ nữ có đam mê chính trường thì những trở ngại trên không thể làm khó họ vì ưu tiên hàng đầu của họ là được làm lãnh đạo.
Nhưng Ngọc Ánh cũng nhấn mạnh rằng khi đó, phụ nữ sẽ phải đánh đổi bằng hạnh phúc gia đình, ít thời gian chăm sóc con cái.
Bên cạnh đó, mạng lưới quan hệ nghề nghiệp – yếu tố quan trọng trong môi trường lãnh đạo – thường hình thành trong không gian nam giới chiếm ưu thế, khiến phụ nữ có thể gặp bất lợi trong việc tiếp cận nguồn lực và cơ hội.
Thể chế gồm các quy trình quy hoạch và tuyển chọn lãnh đạo vẫn chưa có cơ chế đảm bảo thời gian và cơ hội cạnh tranh ngang bằng, nên nữ giới thường bị hạn chế khả năng thăng tiến so với nam.
Bà Mộng Tuyền chỉ ra rằng về thực tiễn, phụ nữ thường thiếu mạng lưới cố vấn và "người giới thiệu chính trị" để được giới thiệu vào các vị trí then chốt, cộng với gánh nặng gia đình và chăm sóc con cái, khiến thời gian tích lũy kinh nghiệm lãnh đạo cấp cao ít hơn.
Tất cả những rào cản nói trên đã hướng nhiều bé gái thông minh thành người vợ núp dưới bóng chồng, nhiều nữ sinh xuất sắc thành cấp dưới của những nam sinh kém hơn, theo Tiến sĩ Thủy Nguyễn.
"Có thể nói, văn hóa xã hội Việt Nam về vấn đề giới còn kém xa thế giới mấy chục năm. Văn hóa chính trị cũng không thể chạy nhanh hơn được", bà đánh giá.
Cơ hội nào cho giới lãnh đạo nữ tiếp theo ?
Trong số 21 nữ tân ủy viên Trung ương Đảng vừa được bầu hôm 22/1, những gương mặt nổi bật gồm Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà và Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh.
Hai người giữ chức vụ bộ trưởng là Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng.
Hai người là phó bí thư thường trực tỉnh ủy, chủ tịch HĐND tỉnh : bà Cao Thị Hòa An (Đắk Lắk) và Tôn Ngọc Hạnh (Đồng Nai).
Song tất cả những người phụ nữ, không bao gồm chuyên gia, mà BBC phỏng vấn trong bài viết này không có ấn tượng với họ.
Những nữ lãnh đạo mà họ có cảm tình đều đã về hưu, như cựu Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, cựu Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa, cựu Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Tôn Nữ Thị Ninh, cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân...
Dù được truyền cảm hứng từ những nhân vật trên, không ai trong số họ muốn dấn thân vào chính trường hay làm lãnh đạo.
Ngọc Ánh dù làm trong một trường đại học công nhưng không muốn làm lãnh đạo vì cô "muốn dành thời gian cho gia đình và muốn sống yên bình, không phải ganh đua, đấu đá".
Còn Hà Vân muốn làm trong trong khu vực tư nhân, vì đánh giá môi trường này "đề cao năng lực cá nhân, hiệu quả công việc và cơ hội phát triển minh bạch hơn nếu không có hậu thuẫn đặc biệt".
Trong khi đó, Thùy Anh dù có chút do dự ban đầu nhưng vẫn chọn làm tư.
"Thực lòng thì tôi vẫn thiên về làm tư hơn, vì tôi thích sự năng động, linh hoạt và môi trường cạnh tranh sòng phẳng, nơi mà kết quả được đo lường nhanh chóng qua hiệu quả công việc.
"Tuy nhiên, đôi khi tôi cũng từng mơ về việc làm trong cơ quan nhà nước, vì cảm giác được đóng góp cho cộng đồng và tham gia vào những quyết sách thay đổi xã hội nó rất 'oai' và ý nghĩa. Nhưng cuối cùng, tôi nghĩ mình cần ra ngoài làm tư trước để va chạm thực tế, tích lũy kinh nghiệm và tài chính ổn định", nữ sinh viên cho hay.
Ở Việt Nam đã có nhiều phụ nữ can trường, thông minh, dám vượt lên lề thói xã hội cũ, đã đạt được thành công trong kinh doanh, văn học nghệ thuật, giáo dục, thể thao.
Đồng thời, ngày càng có nhiều người lên tiếng chống lại sự áp đặt vai trò của người nữ trong xã hội.
"Những người dám làm và những người dám ủng hộ này là nhóm rất quý, là lực đẩy giúp nữ giới thăng tiến toàn diện. Nền tảng này sẽ ngấm dần vào chính trường một cách lâu dài, nhưng rất chậm chạp", Tiến sĩ Thủy Nguyễn nói với BBC.
Chuyên gia từ Đại học Oregon nói thêm rằng một cách can thiệp mà bà cho là "thô thiển" nhưng có hiệu quả về ngắn hạn, là các lãnh đạo có thể đưa ra chỉ tiêu cao hơn về tỉ lệ nữ trong các vị trí chính trị quan trọng, song nhấn mạnh đây không phải là cách tối ưu.
"Cách khác lâu dài hơn là mở rộng cánh cửa tranh cử để những phụ nữ xuất sắc được thể hiện mình, trong khi bớt phải gò mình trong không gian tranh giành ảnh hưởng nội bộ", bà kết luận.
Học giả Mộng Tuyền cho rằng Việt Nam vừa cần dựa vào thực tiễn trong nước, vừa có thể học hỏi từ những ví dụ ở các quốc gia khác.
Mới đây nhất, bà Sanae Takaichi đã trở thành nữ thủ tướng đầu tiên của Nhật Bản, sau đó tiếp tục giữ chức vụ này khi đảng của bà giành chiến thắng áp đảo trong cuộc bầu cử hôm 8/2. Đây là một ví dụ điển hình chứng tỏ phụ nữ hoàn toàn có thể lãnh đạo nền chính trị truyền thống lâu nay ưu tiên nam giới.
Ở châu Âu, các nữ lãnh đạo các nước Bắc Âu, hay nữ chủ tịch đầu tiên của Ủy ban EU Ursula von der Leyen nhấn mạnh rằng cơ chế rõ ràng, mạng lưới cố vấn và chương trình bồi dưỡng lãnh đạo là yếu tố quyết định để phụ nữ nắm vị trí cao.
Theo bà Tuyền, Việt Nam nên thiết kế lộ trình phát triển lãnh đạo nữ, tạo cơ hội công bằng từ cơ sở lên cấp cao và kết hợp thay đổi văn hóa tổ chức, để phụ nữ thực sự có thể thăng tiến và đóng góp quyết định.
Còn với những cô gái Gen Z như Thùy Anh, cô mong rằng có thêm nhiều nữ lãnh đạo vì "phụ nữ thường có sự thấu cảm và tinh tế rất riêng".
"Nếu có thêm nhiều phụ nữ ở cấp cao nhất, tôi tin là các chính sách về giáo dục hay an sinh xã hội sẽ trở nên mềm mại và sát thực tế hơn", nữ sinh viên bày tỏ hi vọng.
Nguồn : BBC, 12/02/2026